🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Gỡ điểm nghẽn, kích hoạt động lực tăng trưởng: Bài 2: Chấp nhận rủi ro để đột phá

8 giờ trước
Muốn có những công nghệ đột phá, trước hết phải xây dựng một cơ chế quản trị chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Khi thất bại vẫn bị đánh đồng với sai phạm, nhà khoa học khó dám theo đuổi những ý tưởng mới và các hướng nghiên cứu tiên phong. Bởi vậy, đổi mới triết lý quản trị khoa học đang trở thành yêu cầu quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đại học Bách khoa Hà Nội ra mắt Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành - hệ sinh thái sáng tạo tích hợp theo mô hình “Design Factory” chuẩn quốc tế. Ảnh: Hằng Thu

Khi sự an toàn lại là rào cản của đổi mới

Một công nghệ đột phá hiếm khi ra đời ngay từ lần thử nghiệm đầu tiên. Lịch sử phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học hay vật liệu mới cho thấy, phía sau mỗi thành công luôn là rất nhiều lần thử nghiệm và nhiều thất bại. Với khoa học, thất bại không phải ngoại lệ mà là một phần tất yếu của quá trình khám phá.

Thế nhưng, trong một thời gian dài, hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam lại chịu tác động của tư duy quản lý theo hướng hạn chế tối đa rủi ro. Điều đó đặt nhiều nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu trước lựa chọn khó khăn: Theo đuổi ý tưởng mới với những bất định hay lựa chọn các nhiệm vụ an toàn để bảo đảm hoàn thành? Không chỉ ảnh hưởng đến từng đề tài, cách tiếp cận này còn tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của cả hệ thống.

Thực tế, những nghiên cứu có khả năng tạo ra công nghệ mới thường cũng là những nghiên cứu có mức độ rủi ro cao. Không ai có thể khẳng định một công nghệ lõi sẽ thành công ngay từ đầu hay một hướng nghiên cứu mới chắc chắn tạo ra sản phẩm như kỳ vọng. Nếu mọi nhiệm vụ đều phải đi đúng kế hoạch, đúng dự toán và đạt đúng kết quả đã cam kết, điều dễ xảy ra nhất là các tổ chức nghiên cứu sẽ ưu tiên những đề tài “chắc thắng”, còn các hướng đi táo bạo dần bị bỏ lại phía sau.

Đây cũng là một trong những điểm nghẽn được Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Ban Chỉ đạo 57) chỉ ra sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo báo cáo, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tăng mạnh (năm 2026 tổng nguồn lực dành cho các lĩnh vực này là hơn 103.000 tỷ đồng, trong đó đã phân bổ gần 85.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, hiệu quả chuyển hóa từ nghiên cứu sang công nghệ, sản phẩm và thị trường vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng (đến hết tháng 6-2026, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 25,9% dự toán).

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, vấn đề cốt lõi không nằm ở thiếu vốn hay thiếu định hướng mà ở khâu thực thi và tư duy quản lý chưa chuyển đổi kịp. Hoạt động khoa học vốn mang tính bất định, đòi hỏi tìm tòi và thử nghiệm, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của phương thức quản lý thiên về kiểm soát đầu vào và hạn chế rủi ro. Việc lấy tiêu chí “không để thất thoát” làm thước đo chủ yếu trong quản lý hoạt động sáng tạo dễ dẫn đến tâm lý e ngại, sợ sai, khiến bộ máy thực thi ưu tiên phương án an toàn thay vì chấp nhận thử nghiệm để tạo ra đột phá.

Có những nhiệm vụ khoa học vẫn dành nhiều thời gian cho hồ sơ, thủ tục tài chính và quy trình hành chính, trong khi kết quả nghiên cứu chủ yếu được đánh giá ở thời điểm nghiệm thu, chưa lấy hiệu quả ứng dụng và tác động thực tiễn làm thước đo quan trọng. Đằng sau những quy định tưởng như chỉ mang tính kỹ thuật ấy là tâm lý e ngại rủi ro.

Điều đáng nói, nhà khoa học không sợ thất bại trong nghiên cứu. Điều họ lo ngại hơn là thất bại đó có thể bị nhìn nhận như một sai phạm trong quản lý. Khi ranh giới giữa rủi ro khoa học và trách nhiệm hành chính chưa được phân định rõ, lựa chọn an toàn gần như trở thành phản ứng tự nhiên của cả hệ thống.

Vì vậy, điều cần tháo gỡ hiện nay không chỉ là một vài quy định về tài chính hay thủ tục mà còn là thay đổi triết lý quản trị khoa học. Thay vì tìm cách loại bỏ mọi rủi ro, cơ chế mới cần thừa nhận rủi ro là đặc tính của hoạt động nghiên cứu, qua đó tạo dựng môi trường để người làm khoa học được bảo vệ khi theo đuổi những hướng đi mới một cách trung thực và có trách nhiệm. Chỉ khi đó, khoa học mới có điều kiện tạo ra những đột phá, và người làm khoa học không còn phải lựa chọn giữa sáng tạo và an toàn.

Từ quản lý rủi ro đến quản trị rủi ro

Thay đổi cách quản lý khoa học không có nghĩa là chấp nhận mọi rủi ro. Điều cốt lõi là chuyển từ tư duy né tránh sang nhận diện, kiểm soát và chấp nhận những rủi ro tất yếu của hoạt động nghiên cứu. Đây cũng là điểm khác biệt căn bản trong quá trình hoàn thiện thể chế khoa học, công nghệ hiện nay.

Biểu hiện rõ nhất là chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả. Theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ chế khoán chi sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng quản lý đến sản phẩm, giảm yêu cầu thanh toán bằng chứng từ chi tiết đối với các nội dung đã được khoán, đồng thời tăng cường giám sát bằng tiến độ và kết quả đầu ra. Điều đó đồng nghĩa với việc Nhà nước không còn tập trung vào câu hỏi “chi như thế nào”, mà hướng đến câu hỏi “nghiên cứu tạo ra giá trị gì”.

Quan trọng hơn, lần đầu tiên nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học được xác định là một nội dung cốt lõi của quá trình hoàn thiện thể chế. Theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ, trường hợp nhiệm vụ khoa học không đạt kết quả do rủi ro khách quan, được hội đồng độc lập xác nhận và không có hành vi gian lận, vi phạm quy trình hoặc sử dụng sai kinh phí thì tổ chức, cá nhân thực hiện có thể được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm tài chính.

Điểm mới không phải là “cho phép thất bại” mà là thay đổi cách nhìn nhận thất bại. Một nghiên cứu không đạt kết quả như kỳ vọng vẫn có thể tạo ra dữ liệu mới, loại bỏ những giả thuyết không phù hợp hoặc mở ra hướng tiếp cận hiệu quả hơn. Vì vậy, điều cơ chế mới hướng tới là phân định rạch ròi giữa thất bại trong nghiên cứu với hành vi vi phạm, tạo niềm tin để nhà khoa học dám theo đuổi những hướng nghiên cứu có tính đột phá.

GS.TS Lê Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, để khoa học và công nghệ có thể tăng tốc, cơ chế chấp nhận rủi ro cần được thí điểm và triển khai mạnh mẽ hơn trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, từ quản lý nhiệm vụ, định giá đến thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy các nghiên cứu có tính tiên phong và tạo ra công nghệ mới.

Tinh thần đó đã bắt đầu được cụ thể hóa trong Nghị định số 229/2026/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED). Không chỉ đổi mới cơ chế tài trợ theo kết quả đầu ra, nghị định còn bổ sung cơ chế quản trị rủi ro, tạo cơ sở pháp lý để NAFOSTED mạnh dạn đầu tư cho các nhiệm vụ có tính tiên phong, chấp nhận khả năng không thành công nhưng có tiềm năng tạo ra công nghệ chiến lược.

Cùng với đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với một số chính sách về đặt hàng, mua sắm sản phẩm công nghệ chiến lược và quỹ đầu tư mạo hiểm. Theo cách tiếp cận này, việc thử nghiệm sẽ đi đôi với đánh giá và hoàn thiện chính sách; đồng thời xây dựng cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với các trường hợp thực hiện đúng quy định, công khai, minh bạch nhưng phát sinh rủi ro trong quá trình thử nghiệm hoặc phát triển công nghệ.

Điều đáng kỳ vọng hơn cả là sự hình thành một triết lý quản trị mới đối với khoa học và công nghệ: Chuyển từ quản lý rủi ro sang quản trị rủi ro; từ kiểm soát quá trình sang đánh giá kết quả; từ tư duy hạn chế thất bại sang tạo cơ chế để những thất bại trung thực trở thành một phần của quá trình sáng tạo. Đó cũng là nền tảng để khuyến khích những người làm khoa học dám nghĩ, dám thử nghiệm và theo đuổi những hướng nghiên cứu có khả năng tạo ra đột phá.

Tuy nhiên, chấp nhận rủi ro mới chỉ tạo điều kiện để công nghệ ra đời. Điều quyết định tiếp theo là công nghệ có đi được tới thị trường hay không.

(Còn nữa)

Trần Thu Hằng

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ