Hành động liều lĩnh của Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ trong suy thoái

Tác giả: Song Hong Bing/Bách Việt Books-NXB Lao Động
Chiến tranh tiền tệ
Cuốn sách phân tích sức mạnh của tiền tệ có thể can thiệp vào các công việc chung của thế giới ra sao. Những trung tâm kinh tế như EU, Mỹ… đang đưa ra các chính sách gì để xử lý khủng hoảng và đảm bảo sự an toàn cho các nhà đầu tư. Mỗi tập đề cập đến một khía cạnh cho thấy cái nhìn toàn cảnh của tác giả về dòng chảy tài chính hiện đại.
Hành động liều lĩnh của Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ trong suy thoái
Cuộc khủng hoảng kinh tế dường như không quá khủng khiếp, niềm tin của người dân đã được khôi phục đáng kể, và lý thuyết điều chỉnh thị trường bò (tăng giá) bắt đầu được nhiều người chấp nhận. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang.
Trước khi Roosevelt bắt đầu chính sách nới lỏng tiền tệ, Hoover đã hai lần thực hiện nới lỏng định lượng (QE).
Từ tháng 11 năm 1929 đến tháng 6 năm 1930, để cứu vãn sự sụp đổ vào tháng 10 và cuộc khủng hoảng niềm tin trên thị trường chứng khoán Phố Wall, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã tiến hành đợt QE đầu tiên, giảm mạnh lãi suất từ 6% xuống 2,5% và bơm 500 triệu đôla vào hệ thống ngân hàng. Những hành động liều lĩnh của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực sự đáng bị coi là “đại nghịch bất đạo”.
Cái gọi là chính sách tiền tệ phản kinh tế là một ý tưởng mới lạ chưa từng được nghe đến vào thời điểm đó. Nội bộ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cũng tranh luận dữ dội. Do thiếu nền tảng lý thuyết và cả thực tiễn, mọi người chỉ có thể dựa vào những ẩn dụ mông lung để suy diễn, và kết quả tất yếu là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”.
Hành vi in tiền của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cộng với yếu tố giá cả suy giảm đã khiến tổng lượng tiền thực tế tăng lên. Trong nửa đầu năm 1930, thị trường chứng khoán tăng mạnh trở lại 50%.
Cuộc khủng hoảng kinh tế dường như không quá khủng khiếp, niềm tin của người dân đã được khôi phục đáng kể, và lý thuyết điều chỉnh thị trường bò (tăng giá) bắt đầu được nhiều người chấp nhận. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang; sau đó, nền kinh tế Mỹ tiếp tục suy giảm, còn thị trường chứng khoán thì chìm trong bầu không khí u ám ở nửa cuối năm.

Nước Mỹ đã từng vật lộn vớ tiền tệ trong cuộc đại suy thoái. Ảnh: Discovery Alert.
Vào tháng 2 năm 1932, Cục Dự trữ Liên bang đã vận động Quốc hội thông qua dự luật cho phép trái phiếu kho bạc Mỹ được sử dụng làm dự trữ tiền tệ, qua đó loại bỏ các ràng buộc cứng nhắc của vàng đối với đồng đôla. Kể từ khi Cục Dự trữ Liên bang được thành lập vào năm 1913, việc phát hành đồng đôla vẫn bị ‘vòng kim cô” vàng siết chặt; việc phát hành 100 đôla phải được đảm bảo bằng một tài sản thế chấp bằng vàng trị giá 40 đôla, và 60 đôla còn lại chủ yếu được thế chấp bằng thương phiếu ngắn hạn.
Mặc dù Cục Dự trữ Liên bang có thể mua và bán trái phiếu kho bạc trên thị trường mở, sử dụng trái phiếu kho bạc làm tài sản chính và trên thực tế sử dụng việc mua trái phiếu kho bạc để bơm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng, nhưng xét về mặt pháp lý, trái phiếu kho bạc Mỹ không thể đóng vai trò là nguồn dự trữ tiền tệ cho đồng đôla.
Địa vị của trái phiếu kho bạc Mỹ trong việc phát hành đồng đôla thậm chí không thể so sánh với địa vị của thương phiếu. Nguyên nhân là do Quốc hội Mỹ rất cảnh giác với sức mạnh tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang, họ lo lắng rằng một ngày nào đó Cục Dự trữ Liên bang sẽ “tiền tệ hóa” các khoản nợ quốc gia, cung cấp sự hỗ trợ cho tình trạng thâm hụt tài chính của Chính phủ, sử dụng quyền lực tiền tệ để tìm cách tham nhũng, ràng buộc rồi lật đổ Chính phủ, từ đó làm điên đảo giá trị nội tại của đồng đôla.
Tuy nhiên, “mật chiếu” của Quốc hội nhằm kiểm soát quyền lực tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang đã bị Cục Dự trữ Liên bang phá bỏ một cách hết sức vi diệu trong thời kỳ khủng hoảng.
Cục Dự trữ Liên bang cuối cùng có thể mua trái phiếu kho bạc thông qua các hoạt động thị trường mở quy mô lớn, đưa trái phiếu kho bạc vào cốt lõi của việc phát hành đồng đôla. Với tư cách là nguồn dự trữ cốt lõi của đồng đôla, về mặt khách quan, nợ quốc gia sẽ buộc đồng đô-la phải tăng lên cùng với đà phát triển kinh tế, và việc tăng nợ quốc gia chỉ có thể đạt được thông qua thâm hụt tài khóa.
Việc Cục Dự trữ Liên bang phát hành thêm trái phiếu kho bạc không chỉ đạt được mong muốn tham lam là dụ Chính phủ thấu chi và tiêu tiền, mà còn buộc Chính phủ thâm hụt dài hạn, nếu không sẽ dẫn đến tình thế tiến thoái lưỡng nan về kinh tế là thắt chặt tiền tệ.
Sự phụ thuộc vào nợ nần này là căn nguyên sức mạnh của Cục Dự trữ Liên bang, và nó cũng là thủ đoạn mà sau này Mỹ đã dùng để đối phó với Vương quốc Anh. Ý tưởng của các chủ ngân hàng thực sự rất độc đáo, cái bẫy tiền tệ mà họ thiết kế ra thật sự quá tinh vi! “Tuyến phòng thủ Maginot” về tiền tệ được Quốc hội thiết kế công phu để chống lại Cục Dự trữ Liên bang đã bị các chủ ngân hàng dễ dàng qua mặt và giáng đòn vu hồi bằng cách lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế.
Sau khi luật mới được thông qua, Cục Dự trữ Liên bang đã ngay lập tức in tiền, tung ra đợt QE2, mua trái phiếu kho bạc trên quy mô lớn và bơm thêm 1 tỷ đô-la vào hệ thống ngân hàng. Thị trường chứng khoán Mỹ tăng gần gấp đôi sau khi QE2 được thực hiện vào năm 1932!
Sự thật cho thấy rằng khi dự luật mới được thông qua vào tháng 2 năm 1932, đây là mức đáy thấp nhất của thị trường chứng khoán Mỹ kể từ thế kỷ XX!
Mặc dù thị trường chứng khoán đã chạm đáy nhưng sự phục hồi kinh tế vẫn còn rất xa vời. Vì vậy Roosevelt chuẩn bị khởi động đợt QE3.
Song Hong Bing/Bách Việt Books-NXB Lao Động
21 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
51 phút trước
1 giờ trước
8 phút trước
9 phút trước
18 phút trước
35 phút trước
51 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước