🔍
Chuyên mục: Thế giới

Hải quân mỹ trả giá vì sai lầm tình báo

2 giờ trước
Ngày 24/4/1945, tàu ngầm U-546 của Đức Quốc xã đã bị đánh chìm trên Đại Tây dương, khiến toàn bộ thủy thủ đoàn bị bắt làm tù binh. Trong quá trình thẩm vấn, họ bị ép trả lời câu hỏi: cuộc tấn công tên lửa của Đức vào lãnh thổ Hoa Kỳ sẽ diễn ra vào lúc nào? Tuy nhiên, các tù binh Đức không thể cung cấp những thông tin được yêu cầu, bởi kế hoạch tấn công tên lửa vào Mỹ chỉ tồn tại trong suy nghĩ của các điệp viên Mỹ.
00:00
00:00

Câu chuyện gián điệp

Vào tháng 9/1944, Hitler tấn công London bằng "vũ khí báo thù" - tên lửa V-2. Việc sử dụng chúng đi kèm với một chiến dịch tuyên truyền nhằm vào cả nước Đức lẫn bên ngoài biên giới. Một mặt, người dân và quân đội Đức được gieo vào đầu rằng sức mạnh tấn công của những tên lửa này sẽ cho phép xoay chuyển cục diện chiến tranh. Mặt khác, Berlin đe dọa các quốc gia thuộc liên minh chống Hitler sẽ phải trả giá cho các cuộc không kích của họ vào các thành phố của đế chế Thứ Ba.

Từ trái sang Erich Gimpel - Jonas Ingram va William_Donovan

Tuy quân Đức đã tung các đòn tấn công tên lửa vào nước Anh, nhưng thứ "vũ khí kỳ diệu" mới này lại gây ra mối lo ngại lớn hơn nhiều ở bên kia đại dương. Người Mỹ vô cùng hoang mang trước những tin đồn rằng tàu ngầm Đức có ý định hủy diệt New York và Washington bằng tên lửa hành trình V-1 và tên lửa đạn đạo V-2.

Cho đến nay, các nhà sử học vẫn tranh cãi về nguồn gốc xuất hiện những tin đồn này. Một trong những nguyên nhân được cho là xuất phát từ sự cẩu thả của Cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ do Tướng William Donovan đứng đầu. Ngày 26/10/1944, chi nhánh Stockholm của cơ quan tình báo này đã gửi về một báo cáo khẳng định: "các nguồn đáng tin cậy" cho biết một tàu ngầm Đức đang chuẩn bị tiến về phía bờ biển Mỹ để bắn phá các thành phố ở đó bằng tên lửa V-1. Còn các báo cáo trong tháng 11 và tháng 12 từ Stockholm thì khẳng định rằng "4 tàu ngầm sẽ được triển khai trong chiến dịch chống lại New York".

Cũng có thể, thông tin về việc chuẩn bị một cuộc tấn công tên lửa vào Mỹ đến từ các điệp viên bị bắt giữ. Có bằng chứng cho thấy người đầu tiên nói về tên lửa là điệp viên của Cơ quan Tình báo Quân sự Đức Oskar Mantel. Anh ta bị bắt làm tù binh vào tháng 8/1944, sau khi tàu ngầm U-1229 của Đức bị đánh chìm trên Đại Tây Dương. Tại các cuộc thẩm vấn, Mantel cho biết Hải quân Đức đang lên kế hoạch đưa các tàu ngầm đến Mỹ để bắn phá bờ biển phía đông nước này.

Sàng lọc tin đồn

Sau đó, Bộ Chỉ huy Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ và cơ quan tình báo hải quân bắt đầu thu thập những tài liệu có thể làm sáng tỏ ý đồ của đối phương. Thông tin thu được từ Mantel lẫn lộn với nhiều tin đồn khác nhau về những tàu ngầm địch xuất hiện ngoài khơi, cũng như với các tin tức từ châu Âu, nơi người ta cho rằng đã phát hiện các tàu ngầm Đức trang bị bệ phóng tên lửa. Mớ hỗn độn những suy đoán và thông tin chưa được kiểm chứng này đã gây ra những phản ứng trái chiều trong các giới quân sự - chính trị cấp cao của Mỹ và Anh.

Tên lửa V-2 trong quá trình vận chuyển

Phía Anh tỏ ra hoài nghi trước các báo cáo về việc quân Đức đang chuẩn bị bắn tên lửa vào bờ biển Mỹ. Tuy nhiên, sự lo ngại của Đồng minh đã buộc các sĩ quan tình báo Anh cùng với Bộ Hải quân phải dành sự chú ý đáng kể để xác minh những tin đồn này. Kết quả là vào ngày 29/11/1944, London đã thông báo cho Wasington rằng Bộ Hải quân và cơ quan tình báo vô tuyến tại Bletchley Park (nơi chuyên giải mã các bức điện của máy mật mã "Enigma" của Đức) hoàn toàn chắc chắn: "những tin đồn này thuần túy là trò tuyên truyền và không được xác nhận bởi bất kỳ bằng chứng đáng tin cậy nào".

Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm người Mỹ yên tâm. Ngày 10/12/1944, trong một cuộc họp báo, Thị trưởng thành phố New York Fiorello La Guardia tuyên bố rằng thành phố có thể bị các tàu ngầm Đức bắn phá. Ông kêu gọi người dân hỗ trợ quân đội và hải quân mọi biện pháp cần thiết để ngăn chặn mối đe dọa.

Trong khi đó, ngày 29/11/1944, tàu ngầm Đức U-1230 đã bí mật đưa hai điệp viên lên bờ biển nước Mỹ. Họ bị bắt vào cuối tháng 12. Trong quá trình thẩm vấn, một trong hai người - Erich Gimpel - khai rằng Đức sở hữu các tàu ngầm mới được trang bị bệ phóng tên lửa. Đáng chú ý là lời khai của điệp viên Đức này gần như trùng khớp về thời điểm với bài phát biểu trên sóng phát thanh của Albert Speer, Bộ trưởng Quân giới Đức, trong đó ông ta tuyên bố rằng các tên lửa V-1 và V-2 sẽ tấn công New York vào ngày 1/2/1945.

Chiến dịch “Giọt lệ”

Vào tháng 1/1945, Tư lệnh Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ, Đô đốc Jonas Ingram, nói với các nhà báo rằng kẻ thù đang chuẩn bị một cuộc tấn công tên lửa vào các thành phố và mục tiêu chiến lược trên bờ biển phía Đông nước Mỹ. Đồng thời, đô đốc cũng cho biết Hạm đội Đại Tây Dương đã sẵn sàng đẩy lùi cuộc tấn công, nhưng không loại trừ khả năng một vài tàu ngầm vẫn có thể áp sát bờ biển và phóng tên lửa.

Tuyên bố của Ingram khiến người Mỹ vô cùng lo lắng. Tuy nhiên, các nhà sử học coi cuộc họp báo của ông là một âm mưu nhằm gây sức ép lên chính quyền dân sự và người dân, vào cuối cuộc chiến, đã trở nên lơ là và không còn dành sự chú ý đúng mức cho các biện pháp thời chiến, ví dụ như tắt đèn phòng không.

Đồng thời, ngay trong Bộ tư lệnh Hải quân Mỹ ở Đại Tây Dương vào thời điểm đó cũng lan truyền những ý kiến khác nhau về khả năng xảy ra một cuộc tấn công tên lửa của Đức. Một mặt, thông tin trấn an vẫn tiếp tục gửi về từ London. Bộ Hải quân Anh và Bletchley Park quả quyết rằng không có bằng chứng nào về việc quân Đức chuẩn bị thực hiện các cuộc tấn công như vậy, còn việc phóng tên lửa V-2 từ tàu ngầm thì hoàn toàn bất khả thi về mặt kỹ thuật.

Mặt khác, người Anh thừa nhận rằng tên lửa hành trình V-1 có thể được các tàu ngầm Đức vận chuyển đến bờ biển Mỹ. Tuy nhiên, Bộ Hải quân Anh ước tính thiệt hại từ việc phóng tên lửa (nếu trúng mục tiêu) là vô cùng nhỏ, đến mức quân Đức khó có thể muốn lãng phí thời gian và công sức vào việc đó.

Tuy nhiên, người Mỹ vẫn bị ám ảnh bởi khả năng Đức tiến hành một cuộc tấn công tên lửa từ tàu ngầm. Để ngăn chặn nguy cơ này, họ đã triển khai chiến dịch mang mật danh “Giọt lệ”. Theo đó, một lực lượng không quân và hải quân hùng hậu đã được huy động: 4 cụm tàu chống ngầm do các tàu sân bay hộ tống dẫn đầu được giao nhiệm vụ đánh chặn các tàu ngầm “mang tên lửa”, với sự yểm trợ của không quân ven biển.

Cuộc săn lùng “Sói biển”

Vào giai đoạn cuối của chiến tranh, các tàu ngầm Đức vẫn tiếp tục hoạt động khá tích cực ở ngoài khơi nước Mỹ. Trong năm 1945, 19 tàu ngầm đã được điều đến Mỹ, phần lớn trong số đó ra khơi vào tháng Ba. Trong số này có 6 chiếc được hợp nhất ngày 14/4 thành nhóm “Sói biển” để tấn công các đoàn tàu vận tải của phe Đồng minh. Berlin cho rằng các đoàn tàu vận tải ở Đại Tây Dương được bảo vệ kém, và thành công trong việc tấn công chúng sẽ buộc Đồng minh phải điều một phần lực lượng từ vùng biển ven bờ Vương quốc Anh ra đại dương, làm giảm bớt áp lực cho các tàu ngầm Đức trên chiến trường châu Âu.

Tuy nhiên, các “sói biển” không hề biết rằng một lực lượng chống tàu ngầm hùng mạnh được điều động cho chiến dịch “Giọt lệ” đang chờ đợi chúng. Nhóm này đã phải chịu tổn thất ngay trong hai ngày 15-16/4, khi quân Mỹ đánh chìm tàu U-1235 và U-880 cùng toàn bộ thủy thủ đoàn. Ngày 22/4, tàu ngầm U-518 cũng chịu chung số phận. Tưởng chừng như nhóm tàu ngầm đã bị đánh bại hoàn toàn, nhưng chỉ hai ngày sau, “Sói biển” bất ngờ cho thấy nanh vuốt của mình.

Rạng sáng ngày 24/4/1945, tàu ngầm U-546 dưới sự chỉ huy của Paul Just, đã phát hiện các chiến hạm thuộc nhóm chống ngầm, gồm các tàu sân bay hộ tống “Bogue” và “Core”, được các tàu khu trục hộ tống. Just đã tấn công đối phương bằng một quả ngư lôi dò âm, trúng tàu khu trục “Frederick C. Davis”. Vụ nổ khiến con con tàu vỡ đôi và chìm xuống cùng phần lớn thủy thủ đoàn. 113 thủy thủ đã thiệt mạng, nhưng 82 người đã được cứu sống.

Sau đó, người Mỹ đã mở cuộc săn lùng U-546. Trong suốt 10 tiếng đồng hồ, các chiến hạm của họ liên tục thả bom chìm xuống chiếc tàu ngầm này. Nhưng phải đến chiều tối, U-546 mới bị hư hại nặng đến mức không thể lặn hoặc hay di chuyển về phía trước. Sau đó, chiếc tàu ngầm nổi lên mặt nước. Just đã phóng thêm một quả ngư lôi nữa về phía đối phương, nhưng bị trượt. Ngay sau đó, U-546 bị thủy thủ đoàn bỏ lại và nhanh chóng chìm xuống. Các tàu Mỹ đã vớt được 33 thủy thủ tàu ngầm Đức từ dưới nước, bao gồm cả chỉ huy con tàu.

Giai thoại và sự thật

Những vụ nổ dưới nước cực mạnh trong quá trình đánh chìm tàu U-1235 và U-880 đã củng cố thêm nghi ngờ của Đô đốc Ingram rằng có một loại vũ khí đặc biệt nào đó trên các con tàu này. Vì vậy, sau khi đưa các tù binh từ tàu U-546 về căn cứ Hải quân Mỹ, các điều tra viên bắt đầu thẩm vấn họ về nhiệm vụ và vị trí của các các tàu ngầm khác. Nhưng các tù binh Đức không nói gì về việc trên tàu của họ có tên lửa để bắn phá bờ biển hay không.

Việc chuyển các tù binh đến Fort Hunt, một trung tâm thẩm vấn tù binh tối mật của quân đội Mỹ gần Washington, nơi họ bị thẩm vấn gắt gao hơn, cũng không mang lại kết quả. Tuy nhiên, điều này không thể tránh khỏi, vì tàu U-546 không được trang bị tên lửa hay đạn phản lực. Do đó, dù có bị đánh đập đến đâu, các tù binh Đức cũng không thể cung cấp bất kỳ thông tin nào về tên lửa.

Điệp viên Đức Oscar Mantel trên tàu “Bogue”

Sau khi Đức đầu hàng, hai tàu ngầm cuối cùng của nhóm "Sói biển" U-805 và U-858 đã ra hàng quân Mỹ. Chính lúc đó, người ta mới nhận ra rằng những thông tin về ý định của quân Đức bắn tên lửa vào bờ biển nước Mỹ là sai sự thật: U-805 và U-858 cũng hoàn toàn không biết gì về việc chuẩn bị một chiến dịch như vậy.

Tuy nhiên, nếu Berlin thực sự có kế hoạch như vậy, người Mỹ có thể sẽ rơi vào một tình thế khá khó khăn. Nhưng may mắn thay cho họ, "nhiệm vụ tên lửa" của các tàu ngầm này chỉ là một giai thoại.

Trần Hậu


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ