Giữ vững 'mạch sản xuất', quyết liệt đưa chương trình vào cuộc sống

Các đồng chí lãnh đạo Ủy ban MTTQ tỉnh, LĐLĐ tỉnh thăm hỏi, động viên và khích lệ tinh thần công nhân lao động tham gia Hội thi tay nghề may giỏi năm 2026. Ảnh: Thanh Huê
Quan hệ lao động ổn định là “hạ tầng mềm” của tăng trưởng
Trong nhiều cách tiếp cận về tăng trưởng, quan hệ lao động thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ an sinh hoặc chấp hành pháp luật. Trên thực tế, đây còn là một yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp dù có vốn, công nghệ và đơn hàng nhưng thường xuyên biến động nhân sự, thiếu đối thoại hoặc để tranh chấp kéo dài cũng khó duy trì hiệu quả ổn định.
Sự bất ổn có thể bắt đầu từ những vấn đề tưởng như nhỏ: tiền lương trả chậm, bảo hiểm xã hội chậm đóng, thay đổi định mức thiếu thông tin, bữa ăn ca không bảo đảm, tăng ca kéo dài, điều kiện làm việc chưa an toàn hoặc kiến nghị của người lao động không được phản hồi. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, những vướng mắc ấy có thể tích tụ thành tranh chấp, ngừng việc, làm gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng thu nhập của người lao động và uy tín của doanh nghiệp.
Vì vậy, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ không phải là phần việc đứng bên ngoài mục tiêu tăng trưởng. Đó là điều kiện bảo đảm “mạch sản xuất” được thông suốt. Mỗi vụ việc được phòng ngừa, mỗi cuộc đối thoại tạo được đồng thuận, mỗi cam kết được thực hiện đúng hạn đều góp phần giảm rủi ro, bảo toàn ngày công và củng cố môi trường đầu tư.
Đây cũng là lĩnh vực thể hiện rõ lợi thế riêng có của tổ chức Công đoàn. Với hệ thống tổ chức tại nơi làm việc, khả năng tiếp cận người lao động và chức năng đại diện, Công đoàn có thể nắm bắt tâm tư, phát hiện tín hiệu bất thường và kết nối các bên trước khi mâu thuẫn trở nên gay gắt. Chương trình hành động của Công đoàn Thanh Hóa đã đưa lợi thế đó thành một cơ chế phòng ngừa có đầu mối, thời hạn và trách nhiệm cụ thể.
Từ xử lý bị động sang cảnh báo sớm và phản ứng “2 giờ - 24 giờ”
Một điểm nổi bật của Chương trình là chuyển trọng tâm từ giải quyết tranh chấp sau khi đã phát sinh sang nhận diện nguy cơ và can thiệp từ sớm. Liên đoàn Lao động tỉnh duy trì năm tổ tư vấn pháp luật lưu động với 111 thành viên; bố trí đầu mối tiếp nhận, tư vấn và cảnh báo sớm tại công đoàn xã, phường và công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp đông lao động; thực hiện tư vấn trực tiếp, qua điện thoại và nền tảng số.
Bộ dấu hiệu cảnh báo sớm tập trung vào những vấn đề thường là nguyên nhân dẫn đến bất ổn: nợ lương, chậm đóng bảo hiểm xã hội, giảm đơn hàng, cắt giảm lao động, thay đổi định mức, tăng ca kéo dài, bữa ăn ca, nguy cơ mất an toàn và kiến nghị đông người. Các tín hiệu được phân loại theo mức độ để xác định đúng người xử lý và thời hạn phản hồi, tránh tình trạng thông tin đi chậm hoặc không đến đúng đầu mối có thẩm quyền.
Khi xuất hiện nguy cơ tranh chấp hoặc ngừng việc, công đoàn cơ sở phải báo cáo sơ bộ trong hai giờ kể từ khi nắm được thông tin; công đoàn xã, phường và đầu mối cấp tỉnh xác minh, hỗ trợ trong 24 giờ. Mốc thời gian cụ thể cho thấy tinh thần không để khoảng trống thông tin, không để một vướng mắc nhỏ tích tụ thành xung đột lớn và không chờ đến khi sản xuất bị gián đoạn mới vào cuộc.
Tốc độ phản ứng phải đi cùng phương pháp phù hợp. Giải pháp ưu tiên vẫn là đối thoại, thương lượng, giải quyết trên cơ sở pháp luật và lợi ích hài hòa; đồng thời kiểm soát thông tin sai lệch, theo dõi việc thực hiện cam kết sau đối thoại. Mục tiêu là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, nhưng cũng giúp doanh nghiệp nhận diện, xử lý sớm rủi ro và hạn chế thiệt hại.
Chương trình phấn đấu trên 80% doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn thực hiện đối thoại, thương lượng về tiền lương, tiền thưởng; trên 80% có thỏa ước lao động tập thể với ít nhất một điều khoản có lợi hơn cho người lao động; ít nhất 70% tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Đây không chỉ là những chỉ tiêu về chấp hành pháp luật. Đối thoại thực chất giúp doanh nghiệp chia sẻ tình hình sản xuất, cùng người lao động tìm giải pháp nâng cao hiệu quả; giúp người lao động được tham gia vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc làm, định mức, thu nhập và điều kiện lao động. Niềm tin hình thành qua đối thoại chính là một nguồn vốn xã hội quý giá của doanh nghiệp.

Công nhân Công ty TNHH Winners Vina trong ca sản xuất. Ảnh: Thanh Huê.
Tăng trưởng phải đi cùng quyền lợi và khả năng phát triển của người lao động
Chương trình thể hiện một quan điểm nhất quán: người lao động vừa là chủ thể tạo ra tăng trưởng, vừa phải là người được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng. Nâng cao năng suất không thể được hiểu đơn giản là tăng nhịp độ làm việc hoặc kéo dài thời gian làm thêm. Năng suất bền vững phải đến từ kỹ năng tốt hơn, công nghệ phù hợp hơn, tổ chức lao động khoa học hơn, điều kiện làm việc an toàn hơn và động lực mạnh mẽ hơn.
Vì vậy, cùng với mục tiêu về kỹ năng và sáng kiến, Chương trình đặt ra yêu cầu chăm lo phúc lợi, ổn định việc làm và giữ chân lao động; phấn đấu ít nhất 85% đoàn viên, người lao động được thụ hưởng các chương trình phúc lợi. Công đoàn chủ động nắm tình hình việc làm, thu nhập, đời sống; ưu tiên hỗ trợ đoàn viên khó khăn, mắc bệnh hiểm nghèo, bị giảm việc; kết nối nhu cầu về nhà ở, nhà trẻ, y tế, văn hóa, thể thao và các dịch vụ thiết yếu.
Nội dung gắn năng suất với tiền lương, tiền thưởng, nâng bậc, đào tạo và cơ hội phát triển nghề nghiệp được đưa vào đối thoại, thương lượng. Khi người lao động nhìn thấy mối liên hệ công bằng giữa nỗ lực, sáng kiến và thu nhập, động lực làm việc sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu yêu cầu năng suất chỉ gia tăng một chiều mà quyền lợi không được cải thiện tương xứng, phong trào khó có thể duy trì lâu dài.
Chăm lo tốt còn mang lại giá trị kinh tế trực tiếp. Người lao động được bảo đảm sức khỏe, an tâm về đời sống và nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp sẽ gắn bó lâu dài hơn; doanh nghiệp giảm tỷ lệ nghỉ việc, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo lại, duy trì được đội ngũ có kỹ năng. Bảo đảm bữa ăn ca, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, phòng chống nắng nóng, chăm sóc sức khỏe và cải thiện điều kiện lao động vì thế không phải là phần việc tách rời tăng trưởng, mà là điều kiện tạo ra năng suất ổn định.
Quan điểm xuyên suốt là không đánh đổi sức khỏe, sự an toàn và quyền lợi hợp pháp của người lao động để lấy kết quả ngắn hạn. Một nền kinh tế tăng trưởng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi chất lượng việc làm, thu nhập và chất lượng cuộc sống của người lao động cùng được nâng lên. Đây là điểm gặp nhau giữa mục tiêu phát triển kinh tế với sứ mệnh đại diện, chăm lo, bảo vệ của tổ chức Công đoàn.
Hai mươi ba nhóm nhiệm vụ và một “bản đồ trách nhiệm” cụ thể
Một chương trình chỉ tạo ra chuyển biến khi mọi chủ trương đều có người thực hiện, mọi công việc đều có thời hạn và mọi kết quả đều có căn cứ đánh giá. Vì vậy, giá trị đáng chú ý của Chương trình không chỉ nằm ở nội dung nhiệm vụ mà còn ở phương thức tổ chức thực hiện. Phụ lục kèm theo đã phân công 23 nhóm nhiệm vụ, xác định cụ thể lãnh đạo phụ trách, đơn vị hoặc cá nhân chủ trì, lực lượng phối hợp, thời hạn, sản phẩm bắt buộc và điều kiện hoàn thành.
Đồng chí Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh chịu trách nhiệm chung, trực tiếp chỉ đạo nhiệm vụ trọng tâm, xử lý khó khăn vượt thẩm quyền và chủ trì đánh giá hằng quý. Đồng chí Phó Chủ tịch được phân công trực tiếp điều hành, duyệt tiến độ, sản phẩm và chỉ đạo xử lý đơn vị chậm. Các bộ phận chuyên môn chịu trách nhiệm theo từng lĩnh vực: chính sách pháp luật và quan hệ lao động tham mưu bộ chỉ số, Hội thi, đối thoại, thương lượng, tư vấn và cảnh báo sớm; tuyên giáo, nữ công phụ trách phong trào sáng kiến, kỹ năng số, truyền thông và tôn vinh; tổ chức, kiểm tra theo dõi trách nhiệm người đứng đầu, đánh giá mô hình; tài chính bảo đảm nguồn lực, thẩm định và quyết toán đúng quy định.
Ở cơ sở, Chủ tịch công đoàn xã, phường chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, xác nhận kết quả và xử lý thông tin trên địa bàn. Chủ tịch công đoàn cơ sở lựa chọn phần việc, thống nhất phạm vi phối hợp với doanh nghiệp, giao nhiệm vụ đến ủy viên ban chấp hành, tổ trưởng công đoàn; cập nhật số liệu, lưu tài liệu kiểm chứng và chịu trách nhiệm về tính trung thực của báo cáo.
Cách phân công này tạo nên một “bản đồ trách nhiệm” xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở. Trách nhiệm không dừng ở tên một cơ quan hoặc tập thể chung chung mà được đặt đến đúng vị trí có khả năng quyết định và tổ chức thực hiện. Nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ kết quả” nhờ đó trở thành cơ chế điều hành chứ không chỉ là yêu cầu trong văn bản.
Tiến độ triển khai năm 2026 cũng được xác lập với nhịp độ khẩn trương: ban hành hướng dẫn và biểu mẫu; giao nhiệm vụ đến từng lãnh đạo, chuyên viên; yêu cầu 100% đơn vị đăng ký phần việc và xác lập số liệu ban đầu; hoàn thành hoạt động luyện tay nghề, tuyển chọn tại cơ sở trong tháng 8; tổ chức Hội thi cấp tỉnh trong tháng 9; sau đó triển khai áp dụng kết quả, thành lập các tổ, câu lạc bộ sáng kiến, đánh giá mô hình điểm và xác định nhiệm vụ năm tiếp theo.
Quản trị bằng dữ liệu, kiểm chứng bằng sản phẩm
Sự quyết liệt trong thực hiện không được hiểu là tăng số cuộc họp hoặc tạo thêm áp lực báo cáo. Cốt lõi là siết chặt kỷ luật thực thi, rút ngắn thời gian phản ứng, làm rõ trách nhiệm và đòi hỏi kết quả thực chất. Mỗi số liệu phải trả lời được lấy từ nguồn nào, ai xác nhận, phản ánh đầu ra của Công đoàn hay kết quả phối hợp tại doanh nghiệp.
Chương trình phân tách ba cấp độ kết quả: đầu ra do Công đoàn trực tiếp tạo ra; kết quả phối hợp đạt được tại doanh nghiệp; tác động đối với người lao động và quan hệ lao động. Cách phân tách này bảo đảm tính khoa học, tránh nhận thay thành tích của doanh nghiệp và không cộng trùng kết quả giữa các phong trào. Công đoàn chỉ ghi nhận phần đóng góp của mình khi có hoạt động cụ thể, số liệu đầu vào, kết quả đầu ra và hồ sơ phù hợp.
Cơ chế báo cáo hằng tháng tạo thành một chu trình kiểm soát liên tục: công đoàn cơ sở cập nhật kết quả trước ngày 20; công đoàn xã, phường rà soát, xác nhận trước ngày 22; cấp tỉnh tổng hợp trước ngày 25. Kiểm tra được thực hiện theo rủi ro, ưu tiên đơn vị có kết quả bất thường, thiếu hồ sơ, chậm nhiều kỳ hoặc tiềm ẩn tranh chấp, mất an toàn. Mục đích của kiểm tra là phát hiện vấn đề để hỗ trợ và chấn chỉnh, không chạy theo thành tích.
Năm 2026, Chương trình thí điểm 10 mô hình “Công đoàn cơ sở kiểu mẫu - Đoàn viên công đoàn gương mẫu” và 12 đơn vị chỉ đạo điểm mô hình “5 tiên phong, 5 đồng hành”. Từ năm 2027, chỉ những mô hình có kết quả, đủ hồ sơ kiểm chứng mới được lựa chọn nhân rộng. Cách làm này ngăn tình trạng nhân rộng hình thức, đồng thời tạo điều kiện để mô hình tốt trở thành phương pháp hoạt động có thể áp dụng bền vững.
Nguồn lực thực hiện được huy động từ tài chính Công đoàn; ngân sách nhà nước hỗ trợ đối với nhiệm vụ phục vụ mục tiêu chung khi được cấp có thẩm quyền quyết định; nguồn tự nguyện, hợp pháp của doanh nghiệp và các nguồn xã hội hóa khác. Chương trình khẳng định không huy động đóng góp bắt buộc từ đoàn viên, người lao động. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính khả thi và giữ đúng bản chất của một chương trình vì người lao động.

Lãnh đạo LĐLĐ tỉnh thăm hỏi tình hình sản xuất, đời sống công nhân Công ty TNHH Giày Annora Việt Nam. Ảnh: Thanh Huê
Khẳng định vai trò bằng những thay đổi có thể kiểm chứng
Sự tiên phong của một tổ chức không được đo bằng số lượng khẩu hiệu mà bằng khả năng tạo ra thay đổi. Đối với Chương trình này, thước đo cuối cùng là có bao nhiêu người lao động tiến bộ về kỹ năng; bao nhiêu sáng kiến được áp dụng; bao nhiêu nguy cơ mất an toàn được loại bỏ; bao nhiêu cuộc đối thoại tạo ra thỏa thuận tốt hơn; bao nhiêu vụ việc được phát hiện, giải quyết từ sớm; số ngày công bị gián đoạn giảm như thế nào; thu nhập, phúc lợi và niềm tin của người lao động được nâng lên ra sao.
Chương trình hành động của Công đoàn Thanh Hóa thể hiện ba bước chuyển có ý nghĩa: chuyển từ hưởng ứng chung sang lựa chọn đúng phần việc thuộc chức năng; chuyển từ xử lý vụ việc bị động sang tư vấn, cảnh báo và phòng ngừa; chuyển từ báo cáo hoạt động sang quản trị bằng dữ liệu, sản phẩm và tác động có thể kiểm chứng. Quan trọng hơn, toàn bộ quá trình được đặt trên nền tảng bảo vệ người lao động, chia sẻ lợi ích và xây dựng quan hệ lao động hài hòa.
Với phương châm “TỈNH PHÁT ĐỘNG - CƠ SỞ HÀNH ĐỘNG - NGƯỜI LAO ĐỘNG HƯỞNG ỨNG”, Công đoàn Thanh Hóa đang đưa mục tiêu tăng trưởng hai con số đến gần từng doanh nghiệp và từng vị trí việc làm. Nếu được triển khai nghiêm túc, liên tục và thực chất, Chương trình không chỉ góp phần hoàn thành mục tiêu giai đoạn 2026-2030, mà còn định hình một phương thức hoạt động Công đoàn hiện đại: hành động có mục tiêu, điều hành có trách nhiệm, quản trị bằng dữ liệu, đánh giá bằng sản phẩm và lấy người lao động làm trung tâm.
Tiến sĩ Lương Trọng Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tổng LĐLĐ Việt Nam, Tỉnh ủy viên, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Thanh Hóa
47 phút trước
2 giờ trước
11 giờ trước
17 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 giờ trước
2 phút trước
21 phút trước
40 phút trước
52 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước