Giữ đà tăng trưởng xuất khẩu trước biến động

Xuất khẩu là một trong những động lực chính của nền kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, góp phần hiện thực mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trước “cú sốc” Trung Đông cùng những biến động và thay đổi lớn của toàn cầu, với nền kinh tế có độ mở cao, các giải pháp điều hành xuất nhập khẩu vì vậy cần linh hoạt trên cơ sở theo dõi sát diễn biến thương mại toàn cầu, gắn với các chính sách liên quan đến xúc tiến thương mại, sản xuất, tài chính và logistics.
Ảnh hưởng lan rộng các nhóm ngành
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), trước áp lực ngày càng lớn từ cuộc xung đột tại Trung Đông, tình hình biến động tại Biển Đỏ, ngành dệt may đang phải “gồng mình” chống chịu do chi phí logisitics tăng vọt, các hãng vận tải buộc phải thay đổi lộ trình qua Mũi Hảo Vọng, khiến thời gian vận chuyển đi Liên minh châu Âu (EU), Mỹ tăng thêm 14-20 ngày. Cước container đi bờ Đông nước Mỹ đã tăng từ 2.000-4.000 USD.
Chi phí đầu vào leo thang, xung đột đẩy giá dầu tăng, kéo theo giá sợi tổng hợp và phẩm nhuộm tăng mạnh, trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp khi giá gia công (CMT) vẫn bị khách hàng ép ở mức thấp. Bên cạnh đó, việc phụ thuộc vào hơn 70% nguyên liệu nhập khẩu khiến các nhà máy dễ bị gián đoạn sản xuất nếu nguồn cung vải và phụ kiện từ nước ngoài chậm trễ do tắc nghẽn hàng hải.
Trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt khoảng 14-15 tỷ USD, tăng trên 20% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhiều nhóm hàng chủ lực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực như rau quả, cà phê, gạo và thủy sản.

Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, dù kim ngạch xuất khẩu tăng, nhưng lợi nhuận của doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn bởi chi phí logistics và nhiên liệu leo thang trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông kéo dài. Chi phí vận chuyển sang châu Âu và Mỹ đã tăng 20-30% so với cuối năm 2025, làm giảm đáng kể biên lợi nhuận.
Khảo sát nhanh của Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân phối hợp với Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) thực hiện trên 228 doanh nghiệp mới đây cho thấy, xung đột tại Trung Đông đang ảnh hưởng sâu rộng, gần như phủ bóng khắp các lĩnh vực kinh tế.
Ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với 92,3% doanh nghiệp ghi nhận tác động. Theo sau là logistics - vận tải - lĩnh vực trực tiếp chịu áp lực từ chi phí nhiên liệu và gián đoạn chuỗi cung ứng. Thương mại - xuất nhập khẩu cũng không nằm ngoài vòng xoáy với tỷ lệ 76,4%, phản ánh sự phụ thuộc lớn vào các tuyến vận chuyển quốc tế….
Dữ liệu khảo sát còn cho thấy bức tranh đơn hàng không còn sôi động, dù chưa rơi vào trạng thái sụt giảm đồng loạt. Cụ thể, 53,3% doanh nghiệp ghi nhận đơn hàng giảm, trong khi 44,7% cho biết chưa có biến động đáng kể. Rất ít doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng đơn hàng trong giai đoạn này.
Chủ động thích ứng, linh hoạt với tình hình mới
Công điện số 23/CĐ-TTg vừa được Chính phủ ban hành về một số nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026 trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, khó lường với nhiều rủi ro, thách thức. Công điện yêu cầu bám sát thực tiễn thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp để đẩy mạnh xúc tiến thương mại, chú trọng thị trường trọng điểm, thị trường mới, thị trường ít bị áp lực bởi xung đột; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng khai thác hiệu quả các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã ký kết.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), từ đầu tháng 3/2026, bối cảnh thế giới biến động phức tạp, khó lường, với nhiều rủi ro, thách thức; xung đột tại Trung Đông tạo cú sốc mới đối với thương mại toàn cầu, giá năng lượng, chi phí logistics leo thang, giá thành sản xuất hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên; chính sách thuế quan của các nước vẫn diễn biến phức tạp.
Để chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu, cần tiếp tục phát huy vai trò của các hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm. Trong các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, việc duy trì sự hiện diện của doanh nghiệp Việt Nam tại các hội chợ, triển lãm chuyên ngành lớn trên thế giới tiếp tục được xem là kênh xúc tiến thương mại quan trọng.
“Bên cạnh việc củng cố các thị trường truyền thống, việc chủ động phát hiện các cơ hội thị trường, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và tăng cường kết nối giao thương sẽ góp phần tạo thêm dư địa tăng trưởng cho xuất khẩu trong thời gian tới. Đặc biệt, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, hệ thống thương vụ và cộng đồng doanh nghiệp, hoạt động xúc tiến thương mại sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng vào việc mở rộng thị trường xuất khẩu, qua đó hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của năm 2026”, ông Phú nhấn mạnh.
Từ thực tiễn hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp đã đưa ra các kiến nghị chính sách, trong đó nổi bật nhất là yêu cầu giảm áp lực chi phí đầu vào khi 61,9% doanh nghiệp đề nghị ưu tiên bình ổn giá năng lượng, bảo đảm nguồn cung xăng dầu, nguyên vật liệu và hạn chế biến động bất thường của giá đầu vào trong nước. Thực tế đợt giảm giá xăng dầu trong nước mới đây đã cho thấy sự linh hoạt của Chính phủ nhằm giữ giá năng lượng không bị biến động quá mạnh, thể hiện sự nhạy bén trong điều hành kinh tế vĩ mô, sẵn sàng sử dụng các công cụ chính sách để bảo vệ đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế.
Chia sẻ góc nhìn từ cộng đồng doanh nghiệp, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Phúc Sinh cho biết, bên cạnh những bất lợi, vẫn có những hướng đi gợi mở cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Căng thẳng tại Trung Đông làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng lương thực, buộc thị trường tìm kiếm nguồn thay thế ổn định hơn. Đây là thời điểm để doanh nghiệp lương thực Việt Nam tận dụng lợi thế nông nghiệp mở rộng thị phần và khẳng định vai trò nguồn cung đáng tin cậy trên thị trường toàn cầu.
“Trước bối cảnh này, ngành nông nghiệp - thực phẩm Việt Nam đang nổi lên như một ‘điểm sáng’. Đa dạng hóa thị trường luôn là chiến lược tối ưu nhất với mọi doanh nghiệp, trong đó có Công ty CP Phúc Sinh. Khi thị trường bị gián đoạn, doanh nghiệp buộc phải nhanh chóng tái cơ cấu, đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ, châu Âu và châu Á. Không thể phụ thuộc vào một thị trường. Khi biến động xảy ra, doanh nghiệp phải có phương án thay thế ngay”, ông Thông cho hay.
Là doanh nghiệp hoạt động trong ngành gỗ - một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, ông Phạm Đình Thắng - Giám đốc Công ty TNHH Triệu Thái Sơn cho rằng, ở giai đoạn mới hiện nay, câu chuyện của doanh nghiệp chế biến gỗ không còn đơn thuần là sản xuất mà là bài toán chuyển mình để thích ứng với một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới.
Ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội lớn khi nhu cầu thị trường quốc tế gia tăng, đặc biệt là các sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, đi kèm với đó là áp lực không nhỏ về tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn gốc nguyên liệu, chuyển đổi xanh và yêu cầu minh bạch trong chuỗi cung ứng.
“Việc chuyển sang chế biến sâu không chỉ là hướng đi mà là yêu cầu bắt buộc. Nhưng thực tế cho thấy, hành trình này không hề dễ dàng. Đầu tư máy móc, công nghệ hiện đại đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ vẫn còn những rào cản nhất định”, ông Thắng dẫn chứng.

Theo ông Thắng, để doanh nghiệp ngành gỗ có thể “bứt tốc”, rất cần hệ sinh thái chính sách đồng bộ và thực chất hơn. Trước hết là các chính sách tín dụng ưu đãi, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Bên cạnh đó là các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực thiết kế, chế biến sâu và quản trị hiện đại.
“Việc xây dựng chuỗi liên kết bền vững cũng rất quan trọng. Nếu có sự kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp - vùng nguyên liệu - thị trường, chúng ta không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn chủ động hơn trước các biến động toàn cầu. Vai trò của cơ quan quản lý trong việc định hướng, dẫn dắt và tạo ‘sân chơi’ minh bạch là vô cùng quan trọng”, ông Thắng khẳng định.
Về dài hạn, bà Dương Hồng Loan, Viện trưởng Viện Sáng kiến Việt Nam khuyến nghị, doanh nghiệp cần chú trọng tái cấu trúc toàn diện theo hướng bền vững, tạo giá trị cao: “Cần chuyển từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu có thương hiệu, từ tăng trưởng theo sản lượng sang tăng trưởng theo giá trị; đồng thời phát triển năng lượng tái tạo và chuỗi cung ứng nội địa”, bà Loan chỉ rõ.
Phan Mích
15 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
29 phút trước
20 phút trước
10 phút trước
18 phút trước
23 phút trước
28 phút trước