🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Gìn giữ nét đẹp và giá trị văn hóa trong lễ cưới của người dân tộc Tày

1 giờ trước
Hôn nhân của người Tày không chỉ đơn thuần là việc kết duyên đôi lứa, mà lớn hơn là truyền thống đạo lý của dân tộc, giáo dục cho con người về nghĩa vợ chồng trong các mối quan hệ gia đình, dòng tộc.

Cô dâu, chú rể thực hiện nghi thức trước bàn thờ tổ tiên. (Ảnh: Minh Tâm/TTXVN)

Đồng bào dân tộc Tày hiện vẫn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình, nhất là các phong tục, nghi lễ đặc sắc trong đám cưới.

Hôn nhân của dân tộc Tày không chỉ đơn thuần là việc kết duyên của đôi lứa, mà lớn hơn là truyền thống đạo lý của dân tộc giáo dục cho con người biết được nghĩa vợ chồng trong các mối quan hệ gia đình, dòng tộc, góp phần gắn kết cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Nghi thức độc đáo

Đối với dân tộc Tày, chuyện trăm năm của đôi lứa thường được các gia đình chọn để tổ chức trong dịp đầu Xuân, đây là một nét đẹp truyền thống trong đời sống của dân tộc Tày.

Đám cưới truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu… thể hiện bản sắc văn hóa của một tộc người. Người Tày gọi lễ cưới là “kin lẩu”, thường được tổ chức trong hai ngày, nhà gái tổ chức hôm trước, nhà trai tổ chức hôm sau.

Theo phong tục, mọi chi phí tổ chức đám cưới của nhà gái đều do nhà trai lo về tiền mặt, lợn, gà, gạo, rượu... dùng làm cỗ mời họ hàng, làng xóm. Điều đó có ý nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết ơn, mong đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của bố mẹ cô gái. Cỗ cưới thường được tổ chức vào buổi chiều (tầm 4-5 giờ chiều), thông thường buổi chiều cỗ cưới dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng. Đến 7-8 giờ tối, gia đình tổ chức ăn uống dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô dâu, chú rể.

Ăn uống xong, mọi người vẫn ở lại, người lớn ngồi uống nước, hàn huyên với gia chủ, thanh niên tổ chức trò vui lày cỏ, thua thì uống rượu, nam nữ hát lượn với nhau. Cuộc vui kéo dài thâu đêm đến mờ sáng mới tan.

Đoàn nhà trai đi đón dâu gồm 1 quan lang, 1 pả mẻ, chú rể, 2 phù rể, 1 cô con gái khoảng 15, 16 tuổi, cha chồng và 1 đoàn gánh lễ khoảng từ 8-10 người (bao gồm các chàng trai, cô gái còn trẻ chưa lấy vợ, lấy chồng).

Lễ vật nhà trai đem sang nhà gái gồm: 100 cái bánh chưng, 400 cái bánh dày nhỏ, 2 cái bánh dày to, 1 con lợn quay, 1 đôi gà, rượu, trầu cau, 1 đôi cá nhỏ, 1 ống tiết, 1 đoạn lòng lợn, 1 túi hạt giống (đỗ, thóc, vừng), một ít đường phên, 1 túi coóc mò khâu bằng vải đỏ, 1 miếng vải đỏ gọi “rằm khấư” báo hiếu công nuôi dưỡng của cha mẹ.

Chú rể đón cô dâu rời nhà gái sau khi hoàn thành các nghi thức cưới. (Ảnh: Minh Tâm/TTXVN)

Thông qua nghi lễ xin dâu, nhận rể và đưa dâu do chủ thể văn hóa thực hiện, giới thiệu đến các đại biểu, khách tham quan một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Tày.

Bước đầu tiên, đại diện của nhà trai và nhà gái thay mặt cho hai gia đình giao tiếp với nhau. Nhà trai đến nhà gái xin dâu. Thay mặt nhà trai sẽ thực hiện các nghi thức cần thiết, giải quyết mọi việc thuộc về quan hệ giữa gia đình nhà trai và gia đình nhà gái.

Trong lễ cưới, trong lúc thực hành các nghi thức theo phong tục, đại diện nhà trai và đại diện nhà gái “giao tiếp” với nhau bằng cách ứng đáp và ca hát, trong đó hát “Quan làng” là một nghi lễ không thể thiếu. Đó là những lời hát chứa đựng tình cảm thương yêu của gia đình cũng như những lời dặn dò, răn dạy của cha mẹ dành cho con cái.

Hôn nhân của dân tộc Tày không chỉ đơn thuần là việc kết duyên của đôi lứa, mà lớn hơn là truyền thống đạo lý của dân tộc giáo dục cho con người biết được nghĩa vợ chồng trong các mối quan hệ gia đình, dòng tộc, góp phần gắn kết cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Đặc biệt, trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, những nét văn hóa càng cần được lưu giữ không chỉ để cho hôm nay mà phải để cho các thế hệ mai sau hiểu hơn, tự hào hơn về văn hóa của dân tộc.

Người con gái Tày đi lấy chồng mang theo nhiều của hồi môn đựng trong chiếc hòm có chân bằng gỗ (rương gỗ). Phần lớn của hồi môn là vải vóc, chăn màn do cô dâu tự dệt và tự may, trang sức bằng bạc, vàng (vòng cổ, hoa tai, vòng tay, xà tích).

Ngoài ra, cô dâu biếu bố mẹ chồng, anh em nhà chồng chăn, màn, khăn mặt, giày và một gánh lễ mang theo để dâng lên bàn thờ nhà chồng. Sau khi hoàn tất các thủ tục báo cáo tổ tiên, mời rượu anh em họ hàng, quan lang nhà trai xin phép đón cô dâu về nhà chồng. Lúc này hai tấm vải một màu trắng, một màu đen sẽ được rải xuống trước bàn thờ ra đến cửa, cô dâu bước trên hai tấm vải đó ra cửa, tuyệt đối không được ngoái đầu nhìn lại.

Tới nhà trai, cô dâu, chú rể làm lễ báo cáo trước bàn thờ tổ tiên họ nội. Chú rể và cô dâu chắp tay vái tổ tiên, uống chén rượu thề trăm năm chung thủy.

Nỗ lực bảo tồn giá trị văn hóa trong lễ cưới người Tày

Đoàn đưa dâu bằng mảng trên hồ Nà Nưa trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Tân Trào (Tuyên Quang). (Ảnh: Minh Tâm/TTXVN)

Nhằm bảo tồn giá trị văn hóa trong lễ cưới của người Tày, sản phẩm du lịch “Đám cưới người Tày” đã được Ban Tổ chức Lễ hội Tân Trào “Tết Độc lập” năm 2026 phục dựng, đưa vào khai thác.

Nghi lễ đám cưới truyền thống của đồng bào dân tộc Tày được tái hiện tại Làng Văn hóa Tân Lập, xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Từ lời hát Quan làng, tục chăng dây đón khách, nghi thức xin dâu đến hành trình đưa cô dâu về nhà chồng bằng mảng trên hồ Nà Nưa, mỗi chi tiết đều góp phần giới thiệu một nét văn hóa đặc sắc được đồng bào Tày gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Hoạt động giúp du khách hiểu thêm về đời sống tinh thần của đồng bào Tày, đồng thời tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ, trình diễn văn hóa và giới thiệu phong tục truyền thống của dân tộc mình.

Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trải nghiệm, địa phương mong muốn tạo nên một không gian văn hóa cộng đồng giàu bản sắc, để người dân và du khách không chỉ tham quan các di tích lịch sử mà còn được hòa mình vào đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc.

Việc phục dựng đám cưới truyền thống của người Tày vừa góp phần bảo tồn, trao truyền phong tục tốt đẹp, vừa làm phong phú sản phẩm du lịch, quảng bá hình ảnh đất và người Tân Trào tới du khách.

Việc đưa các nghi lễ cưới hỏi truyền thống vào hoạt động trải nghiệm còn góp phần trao truyền di sản cho thế hệ trẻ. Những người cao tuổi có dịp kể lại, hướng dẫn cách thực hiện nghi lễ; người trẻ trực tiếp tham gia hát, chuẩn bị lễ vật, mặc trang phục truyền thống và tìm hiểu ý nghĩa của từng phong tục. Nhờ đó, các giá trị văn hóa không chỉ được lưu giữ trong ký ức hay tư liệu mà tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng.

Giữa vùng đất Tân Trào giàu truyền thống cách mạng, đám cưới người Tày hiện lên mộc mạc mà trang trọng, đậm đà bản sắc. Qua lời hát Quan làng, dải tơ hồng trước cổng, nghi thức rửa tay, nếp nhà sàn, những đôi sọt lễ vật và chuyến mảng đưa dâu trên hồ Nà Nưa, phong tục xưa không chỉ được nhắc lại mà tiếp tục sống trong đời sống hôm nay. Đó cũng là cách người dân Tân Trào gìn giữ cội nguồn, trao truyền bản sắc và giới thiệu vẻ đẹp quê hương tới du khách gần xa./.

(Vietnam+)

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ