🔍
Chuyên mục: Quản lý - Quy hoạch

Giảm thủ tục hành chính, nhưng không để khoảng trống kiểm soát an toàn phòng cháy, chữa cháy

4 giờ trước
Sáng 26-10, thảo luận tại tổ về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trong khuôn khổ kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (Đoàn Hà Nội) cho rằng, cải cách hành chính cần gắn với cải cách phương thức quản lý và phân định trách nhiệm.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (Đoàn Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Văn Tuyến

Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung hai Luật theo tờ trình của Chính phủ. Việc phân cấp thẩm quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là hướng đi đúng, phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, đối với lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy, đại biểu cho rằng điều quan trọng không chỉ là giảm được bao nhiêu thủ tục, mà còn phải xác định rõ: Sau khi bỏ một khâu kiểm soát, trách nhiệm bảo đảm an toàn được chuyển cho ai, cơ quan nào có khả năng phát hiện rủi ro và người dân được bảo vệ bằng cơ chế nào.

Từ góc độ tổ chức thực hiện tại một đô thị lớn như Hà Nội, đại biểu tập trung vào hai vấn đề. Thứ nhất, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải đi kèm cơ chế xác định trách nhiệm và kiểm soát rủi ro thực chất. Cần làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu và chủ thể quyết định đưa công trình vào sử dụng; bảo đảm kết quả nghiệm thu được thông báo, lưu trữ và có thể truy xuất để phục vụ hậu kiểm.

Giao Chính phủ quy định cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan phòng cháy, chữa cháy, cơ quan quản lý xây dựng và chính quyền địa phương. Việc này cần thực hiện trên cơ sở tận dụng dữ liệu đã có, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về chuyển đổi số quốc gia, không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại những tài liệu mà cơ quan Nhà nước có thể khai thác.

Hậu kiểm phải dựa trên mức độ rủi ro. Công trình có nguy cơ cao cần được ưu tiên kiểm tra; công trình có nguy cơ thấp, chấp hành tốt không nên chịu cùng tần suất kiểm tra.

Đại biểu cũng đề nghị cần phân biệt rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin để quản lý với thủ tục xin phép để được hoạt động; không được biến thông báo nghiệm thu thành một hình thức chấp thuận hành chính mới.

Vấn đề thứ hai, đại biểu cho rằng cần bảo đảm tính khả thi của quy định chuyển tiếp đối với các công trình, cơ sở hiện hữu, đặc biệt là trách nhiệm của chính quyền cấp xã. Trong đó, dự thảo đã có hướng xử lý đối với cơ sở không bảo đảm yêu cầu phòng cháy, chữa cháy được đưa vào sử dụng trước khi Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001 có hiệu lực; đồng thời bổ sung cơ chế phân loại, hướng dẫn giải pháp kỹ thuật và lộ trình khắc phục đối với một số cơ sở hiện hữu khác. Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với Hà Nội.

Điểm đáng chú ý là đối với một số nhà chung cư, tập thể cũ đã bán cho người dân, có sở hữu đan xen hoặc không xác định rõ chủ sở hữu, Nghị quyết số 79/2025/NQ-HĐND của HĐND thành phố Hà Nội đã quy định cụ thể vai trò của Ban quản trị và Ủy ban nhân dân cấp xã trong tổ chức khắc phục các tồn tại về phòng cháy, chữa cháy. Điều này cho thấy một “điểm nghẽn” không chỉ nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn ở việc xác định chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện và bảo đảm nguồn lực.

“Một công trình có thể xác định được những yêu cầu cần khắc phục, nhưng nếu không rõ ai đại diện cho các chủ sở hữu, ai tổ chức thực hiện, ai bố trí kinh phí và ai duy trì các giải pháp sau khi hoàn thành thì việc khắc phục có nguy cơ kéo dài”, đại biểu nói và cho rằng, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã, phường là nơi trực tiếp nắm tình hình địa bàn. Tuy nhiên, không thể chỉ chuyển thêm trách nhiệm xuống cơ sở mà không xác định rõ thẩm quyền, nhân lực chuyên môn, khả năng tiếp cận dữ liệu và nguồn lực thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát dự thảo Luật bảo đảm các nghị quyết của HĐND cấp tỉnh đã ban hành phù hợp với quy định chuyển tiếp được tiếp tục thực hiện; đồng thời phân định rõ nhóm cơ sở thuộc cơ chế chuyển tiếp đã có và nhóm thuộc cơ chế xử lý mới, tránh một cơ sở phải thực hiện nhiều quy trình hoặc chịu những yêu cầu không thống nhất.

Tiếp theo, cần quy định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng chủ thể. Cấp tỉnh chịu trách nhiệm phân loại, công bố danh sách và tổ chức lộ trình; cơ quan chuyên môn hướng dẫn giải pháp kỹ thuật; cấp xã, phường thực hiện nhiệm vụ quản lý địa bàn trong phạm vi thẩm quyền; chủ sở hữu và người đứng đầu cơ sở chịu trách nhiệm tương ứng với nghĩa vụ pháp lý của mình.

Đặc biệt, trong trường hợp cấp xã phải đứng ra thực hiện một số nhiệm vụ do chưa xác định được chủ thể quản lý công trình, cần làm rõ cơ chế phối hợp và bảo đảm nguồn lực, không để trách nhiệm pháp lý vượt quá khả năng thực hiện.

Cuối cùng, đối với những công trình không thể đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành do điều kiện kiến trúc, kết cấu hoặc lịch sử xây dựng, cần có hướng dẫn kỹ thuật thống nhất để lựa chọn giải pháp tăng cường an toàn phù hợp, đồng thời xác định rõ trường hợp không thể tiếp tục sử dụng và phải chuyển đổi công năng.

“Chúng ta cần giảm những thủ tục hành chính không cần thiết, nhưng không được tạo khoảng trống trong kiểm soát an toàn. Cần tăng trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu và doanh nghiệp, nhưng cũng phải xác định được khả năng giám sát của cơ quan Nhà nước. Cần phân cấp mạnh hơn, nhưng trách nhiệm phải đi cùng thẩm quyền và điều kiện thực hiện”, đại biểu nói.

Mai Hữu

TIN LIÊN QUAN

























































Home Icon VỀ TRANG CHỦ