Giảm giờ làm - đích đến là người lao động sống tốt hơn
Giảm giờ làm phải hướng tới tăng chất lượng sống
Tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV diễn ra vào tháng 6-2026, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam kiến nghị Đảng, Nhà nước xem xét giảm thời gian làm việc bình thường xuống còn 40-44 giờ/tuần. Đây hiện là kiến nghị, định hướng cần tiếp tục nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp.
Sau một tuần lao động, công nhân lao động cần thời gian nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, chăm sóc gia đình, học tập và tham gia các hoạt động xã hội. Cân bằng giữa công việc và cuộc sống ngày càng trở thành một tiêu chí quan trọng của việc làm bền vững.

Giảm giờ làm phải hướng tới tăng chất lượng cuộc sống của người lao động. Ảnh minh họa: Nguyễn Hòa
Nhưng có một câu hỏi rất thực tế cần được đặt ra: Nếu có thêm thời gian nghỉ nhưng thu nhập không đủ bảo đảm cuộc sống thì người lao động có thực sự sống tốt hơn không? Theo Cục Thống kê, 6 tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động cả nước đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng; riêng lao động làm công hưởng lương đạt khoảng 10 triệu đồng/tháng. Thu nhập đang được cải thiện, nhưng điều đó không đồng nghĩa mọi người lao động đều đã có một mức sống thoải mái.
Đối với công nhân tại các địa bàn công nghiệp như Đồng Nai, phía sau tiền lương là những khoản chi rất cụ thể: nhà ở, điện, nước, thực phẩm, đi lại, học hành của con em, y tế và các nhu cầu thiết yếu khác. Vì vậy, khi bàn đến giảm giờ làm, cần đồng thời đặt ra bài toán bảo đảm và từng bước nâng cao thu nhập thực tế của người lao động.
Đây là vấn đề tổ chức Công đoàn cần đặc biệt quan tâm. Đối với một bộ phận công nhân, tiền lương cơ bản không phải là toàn bộ thu nhập; làm thêm giờ vẫn là nguồn bổ sung quan trọng để trang trải cuộc sống. Nếu giảm thời gian làm việc tại doanh nghiệp nhưng đồng thời làm giảm đáng kể tổng thu nhập, người lao động có thể phải tìm thêm công việc khác để bù đắp. Khi đó, trên bảng chấm công họ làm ít giờ hơn, nhưng tổng thời gian lao động thực tế trong ngày hoặc trong tuần không giảm. Thậm chí, họ còn phải di chuyển giữa nhiều nơi làm việc, công việc thiếu ổn định hơn và thời gian dành cho gia đình cũng không tăng.
Như vậy, mục tiêu nhân văn của chính sách chưa đạt được đầy đủ. Người lao động cần thời gian nghỉ ngơi, nhưng cũng cần đủ điều kiện kinh tế để khoảng thời gian ấy thực sự dành cho gia đình, học tập, giải trí và tái tạo sức lao động.
Muốn giảm giờ làm bền vững phải giải bài toán năng suất
Nếu lấy mốc 48 giờ và giảm xuống 44 giờ/tuần thì quỹ thời gian làm việc giảm khoảng 8,3%. Trong một phép tính minh họa đơn giản, nếu các yếu tố khác không đổi và doanh nghiệp vẫn muốn tạo ra cùng một mức sản lượng, năng suất bình quân mỗi giờ cần tăng khoảng 9,1%. Hoạt động sản xuất thực tế tất nhiên phức tạp hơn phép tính này, nhưng cho thấy một nguyên tắc: giảm giờ làm bền vững không thể tách khỏi tăng năng suất lao động. Điều quan trọng hơn là chúng ta tăng năng suất bằng cách nào. Không thể hiểu tăng năng suất đơn giản là yêu cầu công nhân làm nhanh hơn, nhiều hơn trong một đơn vị thời gian. Năng suất phải đến từ công nghệ tốt hơn, kỹ năng tốt hơn, quy trình tốt hơn và quản trị tốt hơn.
Tại thành phố Đồng Nai, năm 2025, quy mô GRDP theo giá hiện hành ước đạt 677.932,31 tỷ đồng; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 372.689,06 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất. Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong nền kinh tế của thành phố. Vì vậy, câu chuyện giảm giờ làm tại Đồng Nai cần được đặt trong quá trình đổi mới mô hình sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa và nâng chất lượng nguồn nhân lực.
Khi thời gian lao động giảm trong khi doanh nghiệp vẫn phải duy trì tiền lương, sản lượng và các nghĩa vụ khác, chi phí lao động tính trên mỗi giờ có thể tăng. Đối với những ngành sử dụng nhiều lao động, sức ép về giá thành và khả năng cạnh tranh có thể lớn hơn. Nhưng không nên vì vậy mà đặt doanh nghiệp và người lao động thành hai phía đối lập. Người lao động cần doanh nghiệp phát triển để có việc làm ổn định và thu nhập tốt. Ngược lại, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải có đội ngũ lao động khỏe mạnh, có kỹ năng, gắn bó và làm việc hiệu quả.
Vì vậy, giảm giờ làm cần đi cùng một hệ sinh thái giải pháp. Nhà nước cần hỗ trợ về cơ chế và chính sách để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số; tạo điều kiện tiếp cận vốn đầu tư máy móc; hỗ trợ đào tạo và đào tạo lại người lao động, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa và những ngành sử dụng nhiều lao động.
Về phía doanh nghiệp, cần chủ động rà soát quy trình sản xuất, giảm thời gian lãng phí, ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức quản trị. Người lao động cần được đào tạo để thích ứng với công nghệ mới. Công đoàn phải vừa đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động, vừa tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa; đặc biệt giám sát để việc nâng năng suất không biến thành tăng cường độ lao động quá mức.
Có quan điểm cho rằng phải tăng năng suất rồi mới giảm giờ làm. Quan điểm khác cho rằng chính việc giảm giờ làm sẽ tạo áp lực để doanh nghiệp đổi mới công nghệ và quản trị. Thực tế, không nên tuyệt đối hóa một trong hai.
Nếu chờ tất cả doanh nghiệp đạt năng suất cao rồi mới giảm giờ làm thì người lao động có thể phải chờ rất lâu. Nhưng nếu giảm đồng loạt trong khi năng lực công nghệ, năng suất và sức chống chịu của các doanh nghiệp rất khác nhau thì có thể tạo ra những tác động ngoài mong muốn đến chi phí, việc làm và sức cạnh tranh.
Giải pháp phù hợp hơn là một lộ trình có bước chuyển tiếp, có điều kiện và có đánh giá tác động. Có thể nghiên cứu theo ngành nghề, mức độ thâm dụng lao động, trình độ công nghệ và khả năng thích ứng của doanh nghiệp; đồng thời theo dõi các chỉ số về năng suất, thu nhập, sức khỏe người lao động, chi phí sản xuất và việc làm. Lộ trình cũng cần có đối thoại thực chất giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động.
Nguyên Bình - Hồng Đăng
3 giờ trước
1 giờ trước
2 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
Vừa xong
8 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
18 phút trước
26 phút trước
51 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước