🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Giá nông sản hôm nay (6/7): Giá cà phê tăng mạnh, hồ tiêu lao dốc

3 giờ trước
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Giá tiêu giảm mạnh 3.000 - 4.000 đồng/kg trong tuần qua

Ngày 6/7, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá lúa hôm nay (6/7) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long điều chỉnh giảm nhẹ. Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá gạo đi ngang.

Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) giảm 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg.

Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán chậm, giá lúa biến động nhẹ. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, một số loại giá lúa tươi giảm nhẹ. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh giá lúa tươi các loại ít biến động.

Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.800 - 8.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.00 - 8.100 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo bình giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp không đổi so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 508 - 512 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 495-450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 347 - 351 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 480 - 484 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 412 - 416 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 350 - 354 USD/tấn, gạo 100% tấm chào bán 280 - 284 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên khép lại tuần qua với diễn biến tích cực khi tăng mạnh từ 2.900 - 3.000 đồng/kg so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng thu mua lên mức 92.300 - 93.000 đồng/kg. Đây cũng là vùng giá cao nhất được ghi nhận trong hơn 3 tháng qua, kể từ cuối tháng 3/2026.

Theo khảo sát, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên sáng nay tiếp tục tăng mạnh

Cụ thể, tại Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá cà phê tăng 3.000 đồng/kg trong tuần, lên mức 93.000 đồng/kg. Đây tiếp tục là mức thu mua cao nhất trong số các địa phương được khảo sát. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cũng đồng loạt tăng 3.000 đồng/kg so với tuần trước, hiện được các đại lý thu mua ở mức 92.800 đồng/kg.

Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức tăng 2.900 đồng/kg, đưa giá cà phê lên 92.300 đồng/kg. Dù thấp nhất trong khu vực khảo sát, mức giá này vẫn cao hơn đáng kể so với cuối tuần trước.

Như vậy, sau nhiều tuần dao động quanh vùng 89.000 - 90.000 đồng/kg, thị trường cà phê nội địa đã có nhịp bứt phá đáng chú ý. Đà tăng mạnh của các sàn giao dịch quốc tế, cùng tình trạng nguồn hàng trong dân không còn dồi dào, đang tạo lực đỡ cho giá thu mua tại Tây Nguyên.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê khép lại tuần qua với mức tăng đáng kể ở cả hai sàn London và New York. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 7/2026 đóng cửa ở mức 3.903 USD/tấn, tăng 2,3%, tương đương 86 USD/tấn so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 2,5%, tương ứng 89 USD/tấn, lên mức 3.716 USD/tấn.

Đáng chú ý, hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng mạnh hơn 3,1%, tương đương 109 USD/tấn, chốt tuần ở mức 3.679 USD/tấn.

Trên sàn New York, đà tăng của cà phê Arabica còn mạnh hơn đáng kể. Cụ thể, hợp đồng arabica giao tháng 7/2026 tăng tới 10,1%, tương đương 28,9 US cent/pound trong tuần qua, lên mức 315,65 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 10,2%, tương ứng 28 US cent/pound, đạt 301,2 US cent/pound. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 9,9%, tương đương 25,8 US cent/pound, lên mức 286,3 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm khép lại tuần qua với diễn biến kém tích cực khi đồng loạt giảm sâu, kéo mặt bằng thu mua trong nước xuống mức thấp nhất trong vòng một năm.

Theo khảo sát mới nhất, giá tiêu nội địa hiện dao động trong khoảng 133.000 - 135.000 đồng/kg, giảm từ 3.000 - 4.000 đồng/kg so với cuối tuần trước. Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá hồ tiêu giảm 4.000 đồng/kg trong tuần, xuống còn 135.000 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) cũng ghi nhận mức giảm tương tự 4.000 đồng/kg, đưa giá thu mua về 135.000 đồng/kg. Tại Đồng Nai, giá tiêu mất 4.000 đồng/kg so với tuần trước, xuống chỉ còn 133.000 đồng/kg. Đây hiện là mức thấp nhất trong số các địa phương được khảo sát.

Trong khi đó, Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) cùng giảm 3.000 đồng/kg, hiện phổ biến ở mức 134.000 đồng/kg.

Như vậy, sau thời gian dài dao động trong biên độ tương đối hẹp, thị trường hồ tiêu nội địa đã xuất hiện một nhịp điều chỉnh mạnh. Việc giá lùi về vùng thấp nhất một năm cho thấy áp lực bán và tâm lý thận trọng vẫn đang chi phối giao dịch, dù nguồn cung dài hạn được đánh giá không quá dồi dào.

Trái ngược với diễn biến giảm mạnh tại thị trường trong nước, giá hồ tiêu thế giới nhìn chung không có nhiều thay đổi trong tuần qua. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia duy trì ổn định ở mức 7.121 USD/tấn.

Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tiếp tục được giao dịch với giá 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia giữ nguyên ở mức 9.350 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn, không thay đổi đáng kể so với tuần trước.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.253 USD/tấn, nhích nhẹ 1 USD/tấn trong tuần. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia tiếp tục được chào bán ở mức 12.250 USD/tấn, còn giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam duy trì tại 9.000 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Tại thị trường trong nước, giá thu mua cao su hôm nay tiếp tục đi ngang tại các doanh nghiệp lớn, phản ánh diễn biến ổn định của thị trường nguyên liệu sau nhiều phiên liên tiếp không có điều chỉnh.

Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Trong nước, giá thu mua mủ cao su tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục duy trì ổn định

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Nhìn chung, thị trường cao su nội địa vẫn duy trì trạng thái ổn định, trong khi giới kinh doanh tiếp tục theo dõi diễn biến cung - cầu và xu hướng giá trên thị trường quốc tế.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su trên các sàn giao dịch quốc tế hôm nay đồng loạt phục hồi sau chuỗi phiên biến động. Trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE) - Nhật Bản, hợp đồng cao su giao tháng 12 tăng 4,3 Yên, tương đương 1,06%, lên 410,3 Yên/kg.

Tại Thái Lan, giá cao su nội địa giao tháng 8 tăng 0,2 Baht, lên 86,4 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 8 tăng 60 Nhân dân tệ lên 16.690 Nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng tháng 9 tăng 115 Nhân dân tệ, đạt 16.755 Nhân dân tệ/tấn.

Đáng chú ý, hợp đồng cao su butadien giao tháng 9 tăng mạnh 3,24%, lên 12.125 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SICOM - Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 8 cũng tăng 1,2%, lên 211,4 US cent/kg.

Theo bà Farah Miller, Giám đốc điều hành Helixtap Technologies, chi phí nguyên liệu đầu vào vẫn ở mức cao khiến các doanh nghiệp chế biến khó giảm giá bán, bất chấp thị trường kỳ hạn đã điều chỉnh mạnh trước đó. Bên cạnh đó, hoạt động mua bù kỹ thuật sau giai đoạn giảm sâu cũng góp phần hỗ trợ giá phục hồi. Tại Thái Lan, giá cao su tấm hun khói RSS3 tăng lên 94,95 Baht/kg, còn giá cao su khối đạt 78,03 Baht/kg, cho thấy tín hiệu cải thiện của thị trường.

GIÁ THỊT LỢN

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Mức giá cao nhất khu vực là 66.000 đồng/kg tiếp tục được ghi nhận tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên, Sơn La và Hưng Yên.

Trong khi đó, Tuyên Quang, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu và Phú Thọ cùng duy trì mức 65.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Bắc dao động từ 65.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.

Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay duy trì xu hướng ổn định trên phạm vi cả nước, chỉ riêng Lâm Đồng tăng 1.000 đồng/kg

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay tăng 1.000 đồng/kg tại Lâm Đồng, trong khi các địa phương còn lại tiếp tục giữ ổn định. Cụ thể, Lâm Đồng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 61.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Thanh Hóa và Nghệ An tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất khu vực với 65.000 đồng/kg. Hà Tĩnh và Quảng Trị cùng duy trì mức 64.000 đồng/kg. Huế và Quảng Ngãi giữ mức 63.000 đồng/kg.

Đà Nẵng, Gia Lai và Đắk Lắk tiếp tục giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg. Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng đạt 61.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Hiện giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 61.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay không biến động, thị trường tiếp tục đi ngang. Theo đó, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh duy trì mức 63.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Các địa phương Tây Ninh, Vĩnh Long và Cần Thơ tiếp tục giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg. An Giang giữ mức 61.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Tháp và Cà Mau vẫn là hai địa phương có giá thấp nhất cả nước với 60.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Nam dao động từ 60.000 đồng/kg đến 63.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Minh Hoàng

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ