🔍
Chuyên mục: Tình yêu - Hôn nhân

Gia đình – điểm tựa của người lính biển

1 giờ trước
Sau mỗi chuyến hải trình của người lính hải quân là một hành trình lặng lẽ nơi hậu phương. Ở đó có những người vợ quen đếm thời gian bằng chuyến tàu, những người mẹ nhiều năm ngóng con trở về và những đứa trẻ lớn lên trong nỗi nhớ cha. Chính những mái ấm bình dị ấy là điểm tựa để người lính vững vàng nơi đầu sóng, ngọn gió.

Vừa là cô giáo, vừa là người mẹ, chị Nguyễn Thị Thúy Hằng luôn dành sự quan tâm, đồng hành cùng các con trên hành trình trưởng thành.

Chiếc ghế chờ người trở về

Chiếc ghế ở đầu bàn ăn vẫn được kéo ra như mọi ngày. Không ai cất đi. Cũng không ai ngồi vào đó. Đã gần hai mươi năm nay, trong căn hộ nhỏ của gia đình chị Trần Thị Hương ở Sơn Trà, Đà Nẵng, chiếc ghế ấy luôn dành cho người chồng thường xuyên vắng mặt vì những chuyến hải trình dài ngày.

Chiều xuống, căn bếp thơm mùi cá kho và canh rau. Hai đứa con ríu rít chuyện trường lớp. Chỉ có khoảng trống nơi đầu bàn ăn vẫn lặng lẽ hướng về phía cánh cửa.

Những buổi tối dạy con học đã trở thành công việc quen thuộc của chị Trần Thị Hương mỗi khi chồng vắng nhà làm nhiệm vụ.

“Bao giờ bố về hả mẹ?”, con gái nhỏ hỏi.

Chị Hương khựng tay xới cơm, rồi mỉm cười: “Bố sắp về rồi con”.

Câu trả lời ấy chị đã nói suốt gần hai mươi năm. Có khi đúng. Có khi phải chờ thêm vài tuần. Với gia đình lính biển, ngày trở về hiếm khi được hẹn trước.

“Bố sắp về rồi con”, câu trả lời ấy chị đã nói suốt gần hai mươi năm. Có khi đúng. Có khi phải chờ thêm vài tuần. Với gia đình lính biển, ngày trở về hiếm khi được hẹn trước.

Ngày nhận lời yêu anh Nguyễn Tiến Thăng, (Điện trưởng tàu 628, Lữ đoàn 161, Vùng 3 Hải quân), chị Hương chỉ nghĩ chồng cũng như bao người lính khác, đi công tác rồi sẽ về. Chỉ đến khi trở thành vợ của một quân nhân chuyên nghiệp, chị mới hiểu: mỗi chuyến tàu rời bến cũng là lúc một gia đình bắt đầu hành trình chờ đợi.

Thời gian trong ngôi nhà ấy không tính bằng tháng năm, mà tính bằng những chuyến biển. Có chuyến hơn ba mươi ngày, có chuyến gần hai tháng, có năm đi xuyên Tết. Những bữa cơm vì thế hiếm khi đủ bốn người. Sinh nhật con vẫn có bánh kem, vẫn có tiếng hát, chỉ thiếu người cha. Nếu biển lặng, anh xuất hiện vài phút qua màn hình điện thoại rồi tín hiệu lại đứt quãng.

Những cuộc gọi từ biển hiếm hoi đến mức cả nhà đều nhận ra ngay tiếng chuông ấy. Vài phút ngắn ngủi để hỏi nhau một câu sức khỏe, rồi chia tay bằng lời dặn quen thuộc: “Ở nhà cố gắng nhé.”

Gia đình, với người lính biển, không chỉ là nơi trở về, mà còn là nơi gửi gắm tất cả yêu thương trước mỗi lần con tàu rẽ sóng.

Hậu phương vững chắc

Suốt gần hai mươi năm làm vợ lính biển, chị Hương chưa bao giờ nghĩ mình hy sinh nhiều hơn chồng.

“Một mình lo mọi việc trong nhà lúc đầu cũng nhiều khó khăn nhưng lâu dần cũng thành quen thôi nên khi chồng vắng nhà tôi cứ chủ động làm, chủ động quyết”, chị nói.

Hai chữ “quen thôi” nghe nhẹ tênh, nhưng phía sau là biết bao việc lớn nhỏ một mình chị gánh vác từ sửa điện nước, chăm sóc cha mẹ hai bên, nuôi dạy con cái... Có những việc trước đây chị chưa từng làm, nhưng rồi từng chuyến tàu nối tiếp nhau rời bến đã buộc chị phải học.

Trong những ngày chồng công tác trên biển, chị Trần Thị Hương vừa là mẹ, vừa là người thầy đầu tiên dạy các con biết yêu lao động và sẻ chia trách nhiệm với gia đình.

Chị Hương bảo “Điều khiến chị day dứt nhất là những lúc các con cần có cha. Ngày con trai vào lớp Một, cậu bé cứ ngóng ra cửa rồi hỏi: ‘Sao bố không đến hả mẹ?’. Lúc ấy tôi chỉ biết ôm con vào lòng và giấu đi những giọt nước mắt nóng hổi trực trào nơi khóe mắt”.

Có thời gian, con gái mắc bệnh tự miễn phải điều trị hơn một năm. Ban ngày đưa con bé đi viện, chiều đón con trai lớn tan học, tối lo từng bữa ăn, giấc ngủ. Khi các con ngủ, chị lại lặng lẽ xem hồ sơ bệnh án và chuẩn bị công việc cho ngày hôm sau.

Suốt thời gian ấy, anh Thăng vẫn làm nhiệm vụ ngoài biển. Chị chưa từng báo cho chồng biết mỗi lần con trở bệnh. Không phải vì không cần sẻ chia, mà bởi chị hiểu: giữa biển khơi, người lính không thể rời vị trí của mình.

“Nếu biết con đau mà không thể trở về, điều đó chỉ khiến anh thêm nặng lòng”, chị Hương chia sẻ.

"Nếu biết con đau mà không thể trở về, điều đó chỉ khiến anh thêm nặng lòng”, chị Hương chia sẻ.

Ở một căn hộ khác trong khu gia đình quân nhân, cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hằng cũng quen với nhịp sống ban ngày đứng lớp, chiều đón con, tối kèm con học. Có những đêm con sốt cao phải nhập viện, chị vừa bế con vừa làm thủ tục, vừa chạy mua thuốc. Chiếc điện thoại cầm lên rồi lại đặt xuống. Ngoài biển, tín hiệu rất yếu. Nếu liên lạc được, cũng chỉ khiến chồng thêm lo lắng.

Nhiều ngày con nằm viện, ban ngày chị xin nghỉ dạy, đêm đến lại soạn giáo án trên chiếc ghế nhựa ngoài hành lang bệnh viện. Không ít lần phải đưa con đến lớp vì không có người trông. Vị hiệu trưởng nhìn hai mẹ con rồi ái ngại nói: “Nhìn cô mà tôi cứ ngỡ đang thời chiến”.

Điểm chung của những người vợ lính biển là rất ít khi kể cho chồng nghe những khó khăn mình đang trải qua. Mỗi cuộc điện thoại chỉ vài phút, câu nói quen thuộc vẫn là: “Ở nhà mọi việc đều ổn”. Hai chữ “ổn thôi” đã giấu đi biết bao đêm thức trắng, bao lỗi lo toan và những tháng ngày vất vả các chị phải gồng gánh một mình.

Những đêm biển động

Điều những người vợ lính biển sợ nhất không phải những chuyến công tác dài ngày, mà là khi biển nổi giông gió.

Điều những người vợ lính biển sợ nhất không phải những chuyến công tác dài ngày, mà là khi biển nổi giông gió.

Mỗi khi bản tin dự báo thời tiết liên tục phát cảnh báo bão, chiếc điều khiển tivi trong những gia đình quân nhân gần như chỉ dừng ở kênh thời tiết. Người ngoài nhìn thấy cấp gió, cấp sóng. Họ nhìn thấy con tàu nơi chồng mình đang làm nhiệm vụ.

Năm 2006, khi con trai mới vài tháng tuổi, chồng chị Hương đang trên biển thì bão lớn ập đến. Đêm ấy, ngoài phố rộ lên tin đồn sóng thần. Trong căn nhà thuê chỉ còn hai mẹ con, chị liên tục gọi điện cho chồng nhưng không liên lạc được.

Với chị Nguyễn Thị Thúy Hằng, những ngày vừa đứng lớp, vừa chăm con trong lúc chồng làm nhiệm vụ ngoài khơi là quãng thời gian nhiều vất vả nhưng cũng đầy nghị lực.

Có lúc chị định dắt xe chạy đi tránh bão rồi lại khựng lại. Đi đâu giữa đêm tối khi đứa con còn đỏ hỏn trên tay? Cuối cùng, chị khóa cửa, ôm con ngồi chờ.

Điều khiến chị sợ nhất không phải gió bão ngoài trời, mà là sự im lặng ở đầu dây điện thoại. Sáng hôm sau, điện thoại mới đổ chuông.

“Ba phải đưa tàu đi tránh bão. Mẹ con có sao không?”, giọng anh Thăng khàn khàn lo lắng cất lên từ đầu dây bên kia khiến chị òa khóc, nhưng chị vẫn chỉ nói một câu: “Ở nhà vẫn ổn. Anh yên tâm làm nhiệm vụ”.

“Ở nhà vẫn ổn. Anh yên tâm làm nhiệm vụ”, chị Hương nén cảm xúc để chồng an tâm làm nhiệm vụ.

Ba năm sau, bão Ketsana lại đổ bộ. Chị vẫn ôm con trong căn nhà rung lên vì gió, lặng lẽ cầu mong người chồng ngoài khơi được bình an.

Chỉ sau này chị mới biết, đúng những đêm ấy, con tàu của chồng cũng phải căng mình chống chọi với sóng lớn. Cán bộ, chiến sĩ thức trắng để giữ an toàn cho tàu và hoàn thành nhiệm vụ.

Những buổi tối dạy con học đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng trong những tháng ngày chồng công tác ngoài khơi.

Hai thế hệ giữ biển

Nếu câu chuyện của chị Hương và chị Hằng là lát cắt về hậu phương người lính biển hôm nay, thì ở gia đình anh Đặng Huy Dũng (Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn 161, Vùng 3 Hải quân), hành trình giữ biển đã trở thành sự tiếp nối của hai thế hệ.

Người cha từng là sĩ quan hải quân. Người con hôm nay viết tiếp hành trình giữ biển. Người mẹ gần như dành cả cuộc đời cho hai lần chờ đợi: ngày trước chờ chồng, bây giờ chờ con.

Khoảnh khắc sum họp của gia đình anh Đặng Huy Dũng sau chuyến công tác dài ngày, giản dị nhưng ấm áp tình thân.

Là người từng khoác áo lính và nhiều năm làm vợ lính biển, bà Đỗ Thị Tình hiểu hơn ai hết những khoảng trống mà nghề lính để lại.

“Thương và lo cho con trai bao nhiêu, tôi lại càng thương con dâu nhiều hơn”, bà Tình nói.

Thương và lo cho con trai bao nhiêu, tôi lại càng thương con dâu nhiều hơn”, bà Tình nói.

Ngồi bên cạnh bà Tình, cựu Đại tá Đặng Huy Hùng (chồng bà Tình) nhớ lại những chuyến công tác gần một trăm ngày giữa Trường Sa. Những con tàu nhỏ chòng chành trong sóng lớn, nhiều ngày chỉ ăn cháo và mì gói để cầm cự. Có chuyến kéo dài 95 ngày, đến khi cập bờ ông mới biết mẹ mình đã qua đời.

“Nỗi đau ai cũng có. Nhưng lúc đó nhiệm vụ phải đặt lên trên”. Chính vì đi qua những tháng ngày ấy, ông chưa bao giờ ngăn con trai nối nghiệp. Điều ông dặn chỉ là: “Dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững bản lĩnh người lính hải quân”.

Bà Tình ngồi cạnh lặng im. Mỗi lần con trai lên đường làm nhiệm vụ, ký ức cũ lại trở về: những đêm mất ngủ vì bão, những lần ôm con chờ chuông điện thoại.

Trong căn bếp nhỏ, bà Đỗ Thị Tình chuẩn bị những món ăn quen thuộc để đón con trai trở về sau chuyến công tác dài ngày.

“Đừng buồn nữa. Mình phải vui thì con dâu và các cháu mới vui”, ông Hùng thường động viên vợ như vậy mỗi khi thấy bà sụt sùi lo lắng cho con trai.

Lời của Hùng cũng là lời nhắc của những người lính biển: phía sau mỗi chuyến hải trình luôn cần một hậu phương đủ vững vàng để người ra đi không phải ngoái lại.

Bình yên được dựng từ những mái nhà

Những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi gặp nhiều gia đình cán bộ, chiến sĩ hải quân. Mỗi ngôi nhà một hoàn cảnh, nhưng có điểm chung: điện thoại luôn được đặt ở vị trí dễ nghe nhất. Một cuộc gọi vài phút cũng đủ khiến cả ngày nhẹ nhõm. Có người nói vui, vợ lính biển là những người “đếm thời gian bằng chuyến tàu”.

Giây phút đoàn tụ của anh Đặng Huy Dũng bên bố mẹ sau những ngày tháng làm nhiệm vụ nơi biển xa.

Họ không nhớ chồng đi bao nhiêu ngày. Họ chỉ nhớ: biển có động không, tàu đã cập đảo chưa, khi nào có sóng điện thoại.

Người ta thường nhắc đến những người lính nơi đầu sóng, những con tàu bám biển, những ca trực xuyên Tết, những lần đối mặt giông bão để giữ chủ quyền Tổ quốc.

Nhưng phía sau mỗi con tàu là một mái nhà luôn sáng đèn. Có người mẹ lặng lẽ cầu mong biển lặng. Có người vợ giấu nước mắt sau nụ cười động viên. Có những đứa trẻ lớn lên bằng nỗi nhớ cha.

Họ không mang quân hàm, không đứng trên boong tàu. Nhưng bằng sự nhẫn nại và tình yêu lặng thầm, họ góp phần làm nên sức mạnh của người lính hải quân.

Bởi phía sau mỗi chuyến hải trình bình yên là một mái ấm được gìn giữ. Và chính từ những mái ấm ấy, ý chí giữ biển được nuôi dưỡng, tiếp nối qua từng thế hệ.

Giữa thời bình, biển vẫn có những con sóng dữ. Nhưng khi những mái nhà còn đỏ lửa, những con tàu sẽ còn vững vàng vươn khơi.

Bài và ảnh: THANH TRÀ

TIN LIÊN QUAN












Chiếc Cúp
Giác ngộ 4 giờ trước


Home Icon VỀ TRANG CHỦ