🔍
Chuyên mục: Thế giới

Eo biển Hormuz tê liệt trở lại: Thị trường năng lượng cạn 'van an toàn'

4 giờ trước
Việc eo biển Hormuz gần như tê liệt sau khi thỏa thuận ngừng bắn Mỹ-Iran đổ vỡ không chỉ đẩy giá dầu tăng mạnh mà còn phơi bày thực tế các 'van an toàn' của thị trường năng lượng đã gần cạn kiệt.
00:00
00:00

Eo biển Hormuz. (Ảnh: THX/TTXVN)

Eo biển Hormuz từ lâu vốn giữ một vị trí đặc biệt trên bản đồ an ninh năng lượng toàn cầu. Nằm giữa Iran và Oman, đây là một trong những điểm nghẽn hàng hải trọng yếu bậc nhất thế giới, nơi mỗi ngày có khoảng 1/5 nguồn cung dầu của thế giới đi qua.

Theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong nửa đầu năm 2025, lưu lượng dầu qua eo biển trung bình đạt khoảng 20,9 triệu thùng/ngày, tương đương 1/4 tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu.

Chính vì vai trò đó, việc tuyến hàng hải này một lần nữa gần như tê liệt sau khi thỏa thuận ngừng bắn giữa Washington và Tehran đổ vỡ, đã tác động nghiêm trọng tới tâm lý thị trường.

Song điều mà giới phân tích quan tâm hơn cả không nằm ở sự kiện đóng cửa, mà ở một điểm khác biệt căn bản với lần đóng cửa trước đó: các nguồn lực dự phòng từng giúp thế giới hấp thụ cú sốc nay đã gần cạn kiệt.

Suốt 4 tháng eo biển bị phong tỏa, cho đến khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận khơi thông tuyến đường hồi tháng trước, chính phủ các nước phương Tây và châu Á đã huy động gần như mọi công cụ chính sách sẵn có.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết các nước thành viên đã xả gần 3/4 trong tổng số 400 triệu thùng dầu dự trữ khẩn cấp theo kế hoạch công bố hồi tháng 3/2026.

Nhìn rộng ra, đây là đợt xả kho chiến lược lớn nhất trong lịch sử, được thực hiện để bù đắp cho phần thiếu hụt mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính vào khoảng 4 triệu thùng/ngày trong giai đoạn từ tháng 3-5/2026.

Nay dư địa để ứng phó với một cú sốc mới gần như không còn. Tờ Financial Times đã dẫn lời một nhà giao dịch tổng kết tình thế trên bằng một câu ngắn gọn: "Chúng tôi đã đốt sạch mọi tấm đệm mình có. Tất cả."

Sự khác biệt này làm thay đổi hoàn toàn bản chất của rủi ro. Ở lần đóng cửa trước, thị trường vẫn còn "van an toàn" để xả áp.

Bà Amrita Sen, Giám đốc bộ phận nghiên cứu thị trường tại Energy Aspects, chỉ rõ rằng khi cuộc xung đột tại Iran bùng phát, thị trường có khoảng 400 triệu thùng tồn kho dôi dư, chưa kể các kho dự trữ chiến lược của chính phủ. Còn hiện tại, theo lời bà, "chúng ta gần như chẳng còn gì."

Khi lớp dự phòng thực tế đã mỏng đi, thị trường buộc phải phản ứng bằng giá và tâm lý bất an lập tức được phản ánh qua diễn biến giá.

Một cơ sở lọc dầu của Iran trên đảo Khark. (Ảnh: IRNA/TTXVN)

Giá dầu Brent, sau khi lao dốc từ khoảng 100 USD/thùng xuống chỉ nhỉnh hơn 70 USD/thùng lúc thỏa thuận ngừng bắn được công bố, đã vọt lên trên 87 USD/thùng hôm 14/7 - mức cao nhất trong hơn một tháng - rồi chốt ở mức khoảng 85 USD/thùng trong ngày 15/7, tăng hơn 10% chỉ trong một tuần.

Ngay cả ở đỉnh điểm căng thẳng của lần đóng cửa trước, giá dầu Brent cũng chỉ đạt đỉnh 126 USD/thùng vào tháng 4/2026 - một mức cao, song vẫn dưới kỷ lục mọi thời đại, chính bởi các "van an toàn" khi ấy còn nguyên vẹn.

Quy mô gián đoạn của cuộc khủng hoảng này không hề nhỏ. Theo phân tích của công ty năng lượng Rapidan Energy Group, việc đóng cửa eo biển đã gây ra đợt gián đoạn dầu mỏ toàn cầu lớn nhất trong lịch sử.

Điều đó cho thấy nếu áp lực nguồn cung tái diễn mà không còn kho đệm, biên độ chịu đựng của thị trường lần này hẹp hơn rất nhiều.

Bài toán càng nan giải khi các phương án thay thế đều có giới hạn rõ rệt. Vùng Vịnh không phải không có lối vòng: lượng dầu thô xuất khẩu của Saudi Arabia đã tăng lên khoảng 5 triệu thùng/ngày qua các cảng ở Biển Đỏ, so với khoảng 7 triệu thùng/ngày từng đi qua Hormuz ở thời điểm trước xung đột.

Nhưng đó chỉ là ngoại lệ. Với Iraq và Kuwait, những nước không có tuyến vận chuyển nào khác thay cho Hormuz, dòng dầu xuất khẩu gần như bị chặn đứng.

Sức ép còn bị khuếch đại từ một mặt trận khác: Nga, nước xuất khẩu dầu diesel lớn thứ hai thế giới, đang bị gián đoạn nguồn cung sau các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tầm xa của Ukraine nhằm vào hệ thống lọc dầu, khiến giá hợp đồng tương lai dầu diesel bán buôn tại châu Âu tăng 14% trong tuần.

Hai điểm nghẽn cùng lúc trên bản đồ năng lượng toàn cầu là một sự trùng hợp hiếm gặp và bất lợi.

Song, chi phối tất cả những diễn biến ấy vẫn là cục diện địa chính trị mà giới phân tích buộc phải tính đến. Chiến dịch không kích của Mỹ đã bước sang ngày thứ 5 liên tiếp (tính đến ngày 15/7), với tổng cộng 9 đợt tấn công kể từ ngày 7/7/2026, trong khi Washington tuyên bố sẽ tiếp tục "trong tuần này và tuần tới."

Bể dự trữ dầu tại nhà máy xăng dầu của Công ty Idemitsu Kosan ở quận Chiba, miền Đông Nhật Bản, ngày 12/11/2021. (Nguồn: Kyodo/TTXVN)

Ở phía bên kia, một số nhà giao dịch nghi ngờ Iran duy trì sức ép nhằm gây khó cho chính quyền Mỹ trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tháng 11/2026.

Trong bối cảnh đó, dự báo lạc quan của Tổng thống Donald Trump rằng khi tình hình lắng xuống, giá dầu sẽ về mức 55 USD/thùng, được thị trường tiếp nhận một cách dè dặt.

Ông Joel Hancock, chuyên gia phân tích hàng hóa cấp cao tại ngân hàng Natixis, nhận định thị trường trước đó đã kỳ vọng vào một kịch bản dòng chảy dầu suôn sẻ, nhưng viễn cảnh ấy nay rõ ràng không còn khả thi, ít nhất cho đến khi có thêm một vòng đàm phán ngoại giao.

Với khu vực châu Á, đây không phải câu chuyện xa xôi. Phần lớn dầu đi qua Hormuz có đích đến là các nền kinh tế châu Á.

Theo EIA, khoảng 89% dầu thô vận chuyển qua eo biển này hướng tới các thị trường châu Á, trong đó riêng bốn nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm khoảng 74% tổng lượng dầu thô qua Hormuz (số liệu nửa đầu năm 2025).

Một cú sốc kéo dài tại điểm nghẽn này, vì thế, sẽ truyền dẫn nhanh và trực tiếp vào chi phí năng lượng, lạm phát và ổn định vĩ mô của cả một khu vực vốn phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ vùng Vịnh.

Suy cho cùng, điều mà cuộc khủng hoảng lần này phơi bày không phải là những biến động giá dầu nhất thời, mà là một thực tế mang tính cấu trúc: sự mong manh của một hệ thống cung ứng phụ thuộc quá lớn vào một tuyến hàng hải duy nhất, cùng giới hạn của chính những công cụ phòng vệ mà thế giới từng tin cậy.

Kho dự trữ chiến lược, việc điều tiết nhập khẩu hay khả năng can thiệp thị trường đều là những nguồn lực hữu hạn - một khi đã dốc cạn thì không thể tái tạo trong ngày một ngày hai.

Bài toán đặt ra, vì thế, không dừng ở việc ứng phó với một cú sốc trước mắt, mà là củng cố chiều sâu của các lớp dự phòng và đa dạng hóa nguồn cung, để an ninh năng lượng không còn được đặt cược vào giả định rằng một tuyến đường huyết mạch sẽ luôn thông suốt./.

(TTXVN/Vietnam+)

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ