🔍
Chuyên mục: Tài chính

Động lực tăng trưởng và nghịch lý tài khóa

1 ngày trước
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên tới 10% cho giai đoạn 2026-2030. Gần nửa năm 2026 đã trôi qua, nhưng nền kinh tế vẫn đang loay hoay với bài toán giải ngân vốn đầu tư công.

Trong năm tháng đầu năm nay, tổng giá trị giải ngân vốn đầu tư công cả nước mới đạt 219.359 tỉ đồng, tương đương 21,6% kế hoạch Thủ tướng giao. Ảnh: H.P

Thách thức cho chính sách tài khóa

Cuối tuần đầu tháng 6-2026, Israel và Iran lại bất ngờ tập kích lẫn nhau, đánh dấu đợt giao tranh đầu tiên kể từ lệnh ngừng bắn hồi tháng 4-2026. Dù hai bên sau đó đã ngừng giao chiến theo lời kêu gọi của Tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng diễn biến trên cho thấy hy vọng sớm đạt được hòa bình lâu dài tại Trung Đông đang suy giảm dần, giữa lúc nỗ lực đàm phán đình trệ và thỏa thuận ngừng bắn liên tục bị thách thức. Xung đột ở Trung Đông vẫn đang gây ra cú sốc năng lượng lớn nhất trong nhiều thập niên, đẩy giá dầu và chi phí đầu vào lên cao.

Không nằm ngoài xu hướng chung, Việt Nam cũng đang đối mặt áp lực lạm phát và rủi ro tỷ giá, khi dự trữ ngoại hối cũng thu hẹp lại trong thời gian qua, khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ ngày càng bị hạn chế. Nếu nới lỏng quá đà để hỗ trợ tăng trưởng, rủi ro lạm phát và tỷ giá càng gia tăng. Vì vậy, chính sách tài khóa mở rộng được xem là động lực chính yếu trong bối cảnh hiện nay.

Nếu những vướng mắc về mặt bằng, vật liệu xây dựng và trách nhiệm ký duyệt không được xử lý sớm, mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ không chỉ khó vì bối cảnh bên ngoài, mà còn khó vì chính điểm nghẽn trong khâu thực thi trong nước.

Quan trọng hơn, Việt Nam đang có lợi thế là dư địa tài khóa còn rất lớn. Tỷ lệ nợ công trên GDP hiện chỉ khoảng 35%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng trần 60%. Theo tính toán của các chuyên gia, cứ mỗi 1% GDP vốn đầu tư công tăng thêm sẽ đóng góp 0,2% vào tăng trưởng GDP năm đầu và tạo hiệu ứng lan tỏa lên tới 0,85% trong bốn năm tiếp theo. Kế hoạch đầu tư hạ tầng giai đoạn 2026-2030 lên tới con số kỷ lục khoảng 8,5 triệu tỉ đồng (tương đương 320 tỉ đô la Mỹ).

Tiền có sẵn nhưng nguồn lực này có chảy được vào nền kinh tế hay không lại là câu chuyện khác. Số liệu công bố gần nhất của Bộ Tài chính cho thấy, trong năm tháng đầu năm nay, tổng giá trị giải ngân vốn đầu tư công cả nước mới đạt 219.359 tỉ đồng, tương đương 21,6% kế hoạch Thủ tướng giao là 1,01 triệu tỉ đồng.

Sự chậm trễ này không chỉ là vấn đề “chậm chung chung”. Có những sự trái chiều đáng chú ý: Hà Nội đang là điểm sáng khi giải ngân được gần 32,8% tính đến cuối tháng 5, nhưng đầu tàu TPHCM mới chỉ đạt khoảng 17,4%. Đáng báo động hơn, vẫn còn 13 bộ và cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 1%, thậm chí có nơi chưa tiêu được một đồng nào.

Nếu nhìn vào kế hoạch vốn cho cả năm 2026 hơn 1 triệu tỉ đồng, mới thấy nhiệm vụ giải ngân vốn trong thời gian còn lại của năm nay là thách thức lớn như thế nào. Một bức tranh tương phản kỳ lạ, hàng trăm ngàn tỉ đồng đang nằm im trong kho bạc, trong khi các công trường khát vốn, doanh nghiệp xây dựng nợ nần, và hạ tầng quốc gia thì vẫn nghẽn mạch.

Những nút thắt và giải pháp

Quí 1-2026, GDP Việt Nam tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Đây là con số tích cực nếu nhìn trong bối cảnh thế giới nhiều bất định, nhưng lại chưa đủ nếu đặt cạnh mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Để đạt mục tiêu cả năm, các quí còn lại phải tăng trên 10%. Do đó, việc xác định các điểm nghẽn trong chính sách tài khóa và sớm có giải pháp tháo gỡ là điều tối cần thiết.

Đầu tiên vẫn là bài toán kinh niên về giải phóng mặt bằng - “cơn ác mộng” của mọi dự án hạ tầng. Việc xác định giá đất bồi thường quá phức tạp, cộng với việc nhiều địa phương sau sáp nhập chưa kiện toàn được bộ máy quản lý, dẫn đến hồ sơ chuyển giao chậm trễ, chồng chéo. Một địa phương có khi tồn tại vài bảng giá đất khác nhau, khiến người dân không đồng thuận và quá trình thương thảo kéo dài.

Việc chậm giải ngân đầu tư công cũng làm suy yếu khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Khi dòng vốn từ ngân sách không bơm được vào nền kinh tế đúng hạn, các dòng vốn mồi từ khu vực tư nhân và FDI cũng sẽ chững lại…

Kế tiếp là cơn “khát” vật liệu xây dựng. Các dự án đường cao tốc, đường vành đai đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt cát, đá và vật liệu san lấp nghiêm trọng. Giá cát, đá đã tăng đáng kể trong những tháng gần đây do nguồn cung bị siết chặt và ảnh hưởng bởi tình hình thế giới. Các chuyên gia phân tích từng chỉ ra rằng nền kinh tế đang thiếu một cơ quan điều phối vật liệu liên vùng hiệu quả, dẫn đến tình trạng nơi thừa nơi thiếu, đẩy nhà thầu vào thế khó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp và tiến độ thi công.

Cuối cùng và cũng là nút thắt “khó gỡ” nhất, đó là tâm lý e ngại sai sót, né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ thanh tra. Trong bối cảnh quy trình thủ tục còn nhiều bất cập, một bộ phận cán bộ chọn giải pháp “an toàn” là không làm gì hoặc làm rất chậm để chờ đợi, thay vì quyết liệt tháo gỡ. Đây là một “nút thắt tâm lý” làm nhiều quyết định bị chậm lại.

Nếu dòng vốn ngân sách tiếp tục ì ạch, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng sẽ phải đối mặt với chi phí tài chính tăng cao và hiệu quả sử dụng vốn sụt giảm.

Hơn nữa, việc chậm giải ngân cũng làm suy yếu khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Khi dòng vốn từ ngân sách không bơm được vào nền kinh tế đúng hạn, các dòng vốn mồi từ khu vực tư nhân và FDI cũng sẽ chững lại vì hạ tầng logistics không đáp ứng kịp. Trong khi đó, chi phí logistics của Việt Nam vẫn đang ở mức cao, làm giảm năng suất tổng hợp (TFP) và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trước tình hình này, giới phân tích cho rằng cần phải có những giải pháp và hành động quyết liệt hơn nữa. Cụ thể, cần sớm có cơ chế phân loại và điều chuyển vốn dứt khoát, theo đó dự án nào đủ thủ tục, có mặt bằng thì phải ưu tiên vốn tối đa. Dự án nào không có khả năng triển khai trong năm nay thì mạnh dạn điều chuyển vốn sang nơi khác đang làm tốt, không nên giữ vốn cho những dự án đang bất động hoặc trì trệ.

Về nút thắt vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng và các địa phương cần phối hợp điều tiết nhu cầu vật liệu liên vùng, tránh cục bộ địa phương. Công tác chuẩn bị nguồn vật liệu phải được thực hiện song song, thậm chí là trước khi phê duyệt dự án.

Một giải pháp khác là cá nhân hóa trách nhiệm bằng KPI, với việc áp dụng KPI cụ thể cho người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương. Giải ngân vốn đầu tư công phải được xem là thước đo quan trọng nhất cho năng lực lãnh đạo. Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế bảo vệ được người dám quyết, dám hành động khi cần xử lý công việc nhanh.

Nếu những vướng mắc về mặt bằng, vật liệu xây dựng và trách nhiệm ký duyệt không được xử lý sớm, mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ không chỉ khó vì bối cảnh bên ngoài, mà còn khó vì chính điểm nghẽn trong khâu thực thi trong nước.

Triệu Minh

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ