🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Đổi mới sáng tạo: Từ tiềm năng đến giá trị thực

1 giờ trước
Đổi mới sáng tạo đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mở rộng nguồn lực, hoàn thiện cơ chế, chính sách sang tạo ra những giá trị thiết thực cho nền kinh tế. Để đáp ứng mục tiêu này, cần tăng cường kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái, thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực nâng cao năng suất và sức cạnh tranh.

Các đại biểu phát động Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026. Ảnh: Truyền thông Bộ KH&CN.

Khơi thông nguồn lực, hình thành hệ sinh thái

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), năm 2026, Việt Nam xếp thứ 43 trong số 139 nền kinh tế về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), tăng 1 bậc so với năm 2025 và 16 bậc so với năm 2016. Trong đó, chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo đứng thứ 35, tăng 2 bậc so với năm trước, còn chỉ số đầu vào xếp thứ 54. Việt Nam đứng thứ hai trong nhóm các nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp về GII, sau Ấn Độ; đồng thời xếp thứ ba trong khu vực ASEAN, sau Singapore và Malaysia.

Đáng chú ý, tính từ năm 2013, Việt Nam thuộc nhóm 7 quốc gia có thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng GII nhanh nhất. Kết quả này cho thấy năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam có những bước tiến tích cực. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục phát huy nguồn lực khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trở thành động lực nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 2 bậc là kết quả đáng ghi nhận, gắn với tinh thần triển khai quyết liệt Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong hơn một năm qua.

Bộ trưởng chỉ ra ba yếu tố quan trọng: nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có bước tăng mạnh; hệ thống chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện; sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam có những bước tiến tích cực. Ảnh: Kim Tiến.

Những chuyển biến này cho thấy đổi mới sáng tạo ngày càng được đặt trong mối quan hệ giữa chính sách, nghiên cứu và nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nguồn lực đầu tư và cơ chế hỗ trợ tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ; sự tham gia của doanh nghiệp cùng các tổ chức khoa học, công nghệ giúp mở rộng khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Ở góc độ kết nối hệ sinh thái, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Võ Xuân Hoài, nhận định những chủ trương lớn của Đảng cùng quá trình thể chế hóa chính sách đã tạo điều kiện để khu vực tư nhân, trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia tham gia tích cực hơn vào hoạt động đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái bước đầu hình thành tương đối đầy đủ, với sự tham gia của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia và các trung tâm đổi mới sáng tạo tại địa phương.

Thực tế cho thấy, triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là câu chuyện tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, mà còn là quá trình tạo dựng môi trường để các nguồn lực được kết nối và phát huy hiệu quả. Sự phối hợp giữa các chủ thể là điều kiện quan trọng để chuyển hóa tiềm lực khoa học, công nghệ thành giá trị thực tiễn.

Biến tiềm năng thành giá trị

Cải thiện thứ hạng GII không phải là mục tiêu cuối cùng. Điều quan trọng hơn là năng lực đổi mới sáng tạo thực chất, thể hiện ở khả năng tạo ra sản phẩm mới, ứng dụng công nghệ, hình thành doanh nghiệp có sức cạnh tranh và đóng góp vào phát triển bền vững. Kết quả đổi mới sáng tạo chỉ có thể tạo ra tác động rõ nét khi được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

Một trong những điểm nghẽn hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Việt Nam đã có những ý tưởng và kết quả nghiên cứu khá tốt, nhưng còn hạn chế trong thương mại hóa, đưa kết quả nghiên cứu vào doanh nghiệp và ứng dụng trong đời sống kinh tế. Theo Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Võ Xuân Hoài, phát triển thị trường cho các kết quả đổi mới sáng tạo và mở rộng quy mô để hình thành những doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đủ lớn là những vấn đề Việt Nam cần tập trung tháo gỡ.

Để khắc phục điểm nghẽn này, ông Võ Xuân Hoài cho rằng cần triển khai đồng bộ ba giải pháp. Trước hết, tăng cường kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, để doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu vào quá trình hình thành ý tưởng và triển khai nghiên cứu.

Robot ứng dụng công nghệ mới là một trong những kết quả của hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Kim Tiến

Thứ hai, cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp có động lực và điều kiện đầu tư, kết quả nghiên cứu sẽ có thêm cơ hội được tiếp nhận, hoàn thiện và đưa ra thị trường.

Thứ ba, cần phát huy năng lực của các trung tâm đổi mới sáng tạo, mạng lưới đổi mới sáng tạo và đội ngũ chuyên gia. Thông qua các tổ chức, mạng lưới và đội ngũ chuyên gia, quá trình kết nối giữa nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường có thể được tăng cường, góp phần rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến ứng dụng thực tế, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Ở góc độ chính sách, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược; đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế, gia tăng số lượng bằng sáng chế và thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn cho nghiên cứu, phát triển. Đây là những yếu tố có quan hệ chặt chẽ: nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng nghiên cứu; nghiên cứu tạo ra tri thức và công nghệ; doanh nghiệp tiếp nhận, phát triển và thương mại hóa các kết quả đó.

Mục tiêu Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về GII vào năm 2030 và nhóm 30 quốc gia dẫn đầu vào năm 2045 đòi hỏi nhiều hơn việc cải thiện thứ hạng. Theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, yêu cầu đặt ra là tiếp tục nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ, năng lực làm chủ công nghệ và khả năng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; đồng thời hoàn thiện cơ chế, tăng cường kết nối các chủ thể và tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi.

{Kim Tiến}

TIN LIÊN QUAN






































































Home Icon VỀ TRANG CHỦ