🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bài 4: Xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước

1 giờ trước
Nghị định số 384/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09/10/2026 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2027) đã chính thức thiết lập bộ tiêu chí kỹ thuật thống nhất để xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc không thuần túy Việt Nam. Văn bản này đồng thời quy định cụ thể danh mục công đoạn gia công, chế biến đơn giản, các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ, cùng nghĩa vụ tự kê khai và lưu trữ hồ sơ chứng minh trong 05 năm của thương nhân.

Hành lang pháp lý mới cho hàng hóa lưu thông nội địa

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm tạo căn cứ pháp lý minh bạch cho việc xác định và thể hiện xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trên thị trường trong nước. Nghị định lấp đầy “khoảng trống pháp lý” bấy lâu nay, đóng vai trò là "mảnh ghép kỹ thuật" hoàn chỉnh bổ trợ cho Nghị định số 37/2026/NĐ-CP về ghi nhãn hàng hóa.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 384/2026/NĐ-CP bao gồm: quy định về hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công chế biến đơn giản, các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nghị định loại trừ (không điều chỉnh) việc xác định xuất xứ hàng hóa để áp dụng biện pháp chứng nhận xuất xứ (C/O) đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (thực hiện theo pháp luật về quản lý ngoại thương); Quy định về hình thức, cách ghi nhãn hàng hóa và cách trình bày các nội dung bắt buộc khác trên nhãn (thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP); Hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (thực hiện theo pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa).

Hai cách để hàng hóa đạt xuất xứ Việt Nam

Nghị định quy định hàng hóa được công nhận có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong hai trường hợp: có xuất xứ thuần túy Việt Nam (Điều 5) hoặc có xuất xứ không thuần túy Việt Nam (Điều 6). Trong trường hợp cần thiết, các Bộ, cơ quan ngang Bộ được phép xây dựng quy định riêng đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo phù hợp với khung kỹ thuật của Nghị định.

Nghị định quy định 10 trường hợp xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam

Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam (Điều 5) là nhóm hàng hóa được khai thác, nuôi trồng, thu hoạch hoặc chế biến hoàn toàn tại Việt Nam. Điều 5 của Nghị định liệt kê 10 trường hợp cụ thể: Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; sản phẩm từ động vật sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm tại Việt Nam; khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam; sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải Việt Nam, với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác theo luật pháp quốc tế; hải sản và sản phẩm đánh bắt khác từ vùng biển cả bằng tàu đăng ký tại Việt Nam và được phép treo cờ Việt Nam; sản phẩm được chế biến hoặc sản xuất ngay trên tàu từ các hải sản nêu tại khoản 7; vật phẩm phế thải thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam không còn thực hiện được chức năng ban đầu, chỉ dùng để vứt bỏ, làm nguyên liệu thô hoặc tái chế; hàng hóa thu được hoặc được sản xuất hoàn toàn từ các sản phẩm nêu từ khoản 1 đến khoản 9.

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp đạt xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam (Điều 6) áp dụng cho sản phẩm hàng hóa có sử dụng nguyên liệu không có xuất xứ Việt Nam. Hàng hóa thuộc nhóm này đạt xuất xứ Việt Nam khi đáp ứng một trong hai tiêu chí: Tiêu chí 1 là chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC) ở cấp độ 04 số (nhóm HS) từ nguyên liệu không có xuất xứ để sản xuất ra hàng hóa tại Việt Nam. Tiêu chí 2 là hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%, được xác định theo một trong hai công thức dựa trên Giá xuất xưởng.

Thương nhân được quyền lựa chọn công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp, áp dụng trong năm tài chính. Trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa được tính vào hàm lượng VVC.

Đột phá đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số (Khoản 4 Điều 6): Các công đoạn tạo ra sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC, bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa, chi phí thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm.

Nhận diện công đoạn gia công đơn giản và các yếu tố loại trừ

Nghị định quy định công đoạn gia công, chế biến đơn giản (Điều 7) là các công đoạn không sử dụng kỹ năng đặc biệt, máy móc, dây chuyền hoặc thiết bị chuyên dụng và không được xét khi xác định xuất xứ hàng hóa Việt Nam.

Danh mục các công đoạn đơn giản (dù thực hiện riêng rẽ hay kết hợp) bao gồm: Bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, sấy khô, làm lạnh, ngâm muối, xông lưu huỳnh...); lau chùi, phủ bụi, tẩy rỉ, tẩy dầu mỡ, sơn hoặc phủ bề mặt; thay đổi bao bì đóng gói, tháo dỡ, lắp ghép lô hàng; đóng chai, lọ, bao, hộp đơn giản; dán hoặc in nhãn hiệu, nhãn mác, logo lên sản phẩm hoặc bao bì; pha trộn đơn giản các sản phẩm; mài sắc, cắt đơn giản; ép thẳng vải; kiểm tra/thử nghiệm đơn giản; giết mổ động vật.

Hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, nếu tại Việt Nam chỉ trải qua các công đoạn bao gói, dán nhãn, phân loại hoặc lắp ráp đơn giản nêu trên thì không được phép ghi nhãn hay công bố là hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Các yếu tố gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng không cấu thành nên bản chất hàng hóa sẽ không được tính khi xác định xuất xứ, bao gồm: Nhiên liệu, năng lượng, chất xúc tác và dung môi; dụng cụ, khuôn rập, khuôn đúc, găng tay, quần áo và thiết bị bảo hộ an toàn; phụ tùng, vật liệu bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc và thiết bị thử nghiệm; dầu nhờn, chất bôi trơn và bất kỳ nguyên liệu nào khác không cấu thành hàng hóa.

Trách nhiệm của thương nhân và cơ chế quản lý nhà nước

Nghị định quy định cơ chế "Tự nguyện - Tự kê khai - Tự chịu trách nhiệm" (Điều 9). Thương nhân, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuân thủ quy định pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quy định pháp luật khác liên quan; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin đã công bố. Thương nhân có nghĩa vụ lưu trữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa (hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu khác có liên quan) trong thời hạn 05 năm kể từ ngày thể hiện xuất xứ để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2027. Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng pháp luật được sản xuất, ghi nhãn trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thì được tiếp tục lưu thông trên thị trường đến khi hết hạn sử dụng.

PV

TIN LIÊN QUAN























Home Icon VỀ TRANG CHỦ