Doanh thu WinCommerce tăng gần 30%, lợi nhuận quý II gấp 14 lần cùng kỳ

Sau 7 năm tái cấu trúc, WinCommerce ghi nhận tăng trưởng ấn tượng.
Công ty CP Tập đoàn Masan (HoSE: MSN) vừa công bố kết quả kinh doanh chưa kiểm toán quý II và sáu tháng đầu năm 2026 với mức lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay.
Trong quý II, doanh thu thuần của Masan đạt 28.118 tỷ đồng, tăng 53,5% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Pre-MI) đạt 3.800 tỷ đồng, gấp hơn 2,3 lần.
Lũy kế sáu tháng, chỉ tiêu này đạt 5.773 tỷ đồng, gấp 2,2 lần cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 4.371 tỷ đồng, cao gấp ba lần nửa đầu năm 2025.
Trên cơ sở kết quả đạt được và triển vọng nửa cuối năm, Masan đề xuất nâng kế hoạch năm 2026 lên mức doanh thu 98.000 – 105.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số 10.000 – 11.500 tỷ đồng.
Theo kế hoạch mới, lợi nhuận sau lợi ích cổ đông thiểu số dự kiến đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, gấp hai lần năm trước.
Một trong những động lực chính của Masan trong quý II đến từ hệ điều hành tiêu dùng (Consumer Operating System – cOS) kết nối các nền tảng bán lẻ, thương hiệu và số hóa.
Doanh thu của cOS đạt 20.059 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 3.356 tỷ đồng, tăng 26,2%.
Khi mỗi mảng kinh doanh đều có khả năng tự tài trợ cho tăng trưởng và bắt đầu đóng góp dòng tiền về tập đoàn, Masan sẽ ưu tiên sử dụng dòng tiền tự do để giảm đòn bẩy, tái đầu tư và mở rộng dư địa chi trả cổ tức cũng như mua lại cổ phiếu trong thời gian tới.
Nền tảng bán lẻ: Tăng trưởng quy mô đi cùng lợi nhuận
Tại mảng bán lẻ, WinCommerce – đơn vị vận hành chuỗi WinMart, WinMart+ và WiN – ghi nhận doanh thu quý II đạt 11.629 tỷ đồng, tăng 27,4%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 142 tỷ đồng, gấp 14 lần cùng kỳ.
Tăng trưởng doanh thu 6 tháng đầu năm vượt ngưỡng cao trong kế hoạch cả năm, với đà tăng trưởng được kỳ vọng tiếp tục trong nửa cuối năm, giai đoạn có yếu tố mùa vụ thuận lợi hơn.
Trong quý, WinCommerce (WCM) mở mới thuần 324 cửa hàng, nâng tổng số điểm bán trên toàn quốc lên 5.141, bám sát mục tiêu mở mới từ 1.000–1.500 cửa hàng trong cả năm. Hơn 90% số cửa hàng mở mới trong quý đã đạt điểm hòa vốn EBITDA ở cấp độ cửa hàng ngay trong quý.
Doanh thu trên cùng cửa hàng của mô hình minimart tăng 12,4%, đánh dấu quý thứ tám liên tiếp duy trì mức tăng trưởng hai chữ số. Đối với mô hình siêu thị, mức tăng đạt 16,3%, nhờ chương trình nâng cấp cửa hàng và năng suất điểm bán được cải thiện.
Đáng chú ý, doanh thu trung bình ngày của các minimart tại khu vực nông thôn đã đạt khoảng 90% so với cửa hàng tại đô thị, cho thấy khả năng mở rộng hiệu quả của mô hình tại những thị trường còn nhiều dư địa.
Biên lợi nhuận ròng của doanh nghiệp bán lẻ này cũng tăng 110 điểm cơ bản so với cùng kỳ, đạt 1,2%, nhờ hiệu quả quy mô và kỷ luật chi phí.
Ở kênh bán lẻ truyền thống, doanh thu của Masan Consumer tăng 10,6%. Hệ thống phân phối hiện tiếp cận khoảng 550.000 điểm bán đang hoạt động, số SKU trên mỗi điểm bán đạt khoảng 5,8; và khoảng 43.000 điểm bán hiện phân phối từ sáu ngành hàng trở lên.
Ở mảng bán lẻ đồ uống và dịch vụ ăn uống, Phúc Long Heritage đạt doanh thu 550 tỷ đồng trong quý II, tăng 26,9%. Chuỗi mở thêm 15 cửa hàng tiêu chuẩn, nâng tổng số cửa hàng độc lập lên 220, chưa bao gồm các kiosk đặt trong hệ thống WinCommerce. Doanh nghiệp đang bám sát mục tiêu mở mới từ 40–50 cửa hàng trong năm 2026, với phần lớn số cửa hàng dự kiến được mở trong nửa cuối năm.

Khách hàng đang đặt món tại Phúc Long
Nền tảng thương hiệu: Cao cấp hóa và mở rộng thị phần trong chi tiêu tiêu dùng hàng ngày
Masan Consumer (HoSE: MCH) ghi nhận doanh thu quý II đạt 7.165 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cùng kỳ và bám sát kế hoạch cả năm 2026. Sản lượng tiêu thụ tăng 12,5%, sau khi doanh nghiệp hoàn tất quá trình chuyển đổi hệ thống phân phối trong năm 2025.
Tăng trưởng của Masan Consumer đến từ chiến lược cao cấp hóa danh mục sản phẩm, được dẫn dắt bởi CHIN-SU; mở rộng thị phần, với sự phục hồi của Nam Ngư; Kokomi duy trì vững chắc; và ngành hàng đồ uống đóng chai quay trở lại tăng trưởng, đạt 17,8%; các động lực tăng trưởng mới, trong đó ngành hàng hóa mỹ phẩm (HPC) tăng 32,5% so với cùng kỳ. mảng kinh doanh quốc tế cũng ghi nhận mức tăng trưởng 24%.
Tập đoàn cũng mở rộng công thức xây dựng thương hiệu sang ngành hàng đạm động vật.
Theo đó, Masan MEATLife (UPCoM: MML) đạt doanh thu 2.683 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số 191 tỷ đồng, tương ứng biên lợi nhuận 7,1%. Kết quả này tiếp tục khẳng định sự chuyển dịch sang mô hình kinh doanh đạm động vật có biên lợi nhuận cao hơn, được dẫn dắt bởi thương hiệu.
Doanh thu của Masan MEATLife qua hệ thống WinCommerce tăng 30,5%. Doanh thu bình quân mỗi ngày tại một cửa hàng hiện hữu đạt 2,6 triệu đồng, tăng 18,9%, phản ánh hiệu quả khai thác mạng lưới ngày càng cao. Heo Cao Bồi tăng trưởng 21,2% và Ponnie tăng 45,5% so với cùng kỳ. Doanh thu từ các sản phẩm đổi mới đóng góp 37,5% doanh thu sản phẩm có thương hiệu, cho thấy các sản phẩm mới đang từng bước trở thành động lực tăng trưởng bền vững.

Dây chuyền sản xuất thịt ủ mát chuẩn Âu tại tổ hợp chế biến thịt MEATDeli tại Hà Nam
Nền tảng số hóa: Công nghệ nâng cao năng suất trên toàn nền tảng.
Công cụ đánh giá vị trí đang chuyển mình từ một nền tảng dữ liệu thành nền tảng vận hành phục vụ mở rộng mạng lưới cửa hàng. Công cụ này không chỉ xác định địa điểm mở mới phù hợp mà còn quản lý toàn bộ quy trình mở cửa hàng từ đầu đến cuối.
Công cụ đánh giá sản phẩm đã được kiểm chứng tại MEATDeli, giúp doanh thu tăng 4%. Kết quả này hiện đang được nhân rộng thành mô hình tự động xây dựng danh mục hàng hóa trên toàn mạng lưới.
WiNARE đặt mục tiêu hoàn tất giai đoạn đầu tiên trong quý III/2026, đưa 90% giá trị đơn hàng lên hệ thống đặt hàng tập trung và số hóa. Mỗi 10% gia tăng tỷ lệ đặt hàng tự động mang lại khoản tiết kiệm khoảng 100 tỷ đồng mỗi năm. Trong 12 tháng tiếp theo, trọng tâm sẽ chuyển sang tối ưu vận hành, bao gồm giảm số ngày tồn kho và tỷ lệ hao hụt hàng hóa.
MSR: Nền tảng vật liệu chiến lược toàn cầu thúc đẩy khả năng tạo dòng tiền của Masan
Bên cạnh lĩnh vực tiêu dùng – bán lẻ, kết quả quý II của Masan còn được thúc đẩy đáng kể bởi Masan High-Tech Materials (MSR).
MSR ghi nhận bước tiến mạnh mẽ về lợi nhuận trong quý II/2026, với doanh thu đạt 8.138 tỷ đồng, tăng gấp 5,0 lần so với cùng kỳ; NPAT Pre-MI đạt 1.666 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 6 tỷ đồng trong quý II/2025.
Kết quả được thúc đẩy bởi giá APT bình quân trong quý II đạt 3.245 USD/mtu , cao hơn gấp đôi so với kịch bản kế hoạch ban đầu được trình tại đại hội đồng cổ đông, cùng hiệu quả vận hành được cải thiện.
Vonfram dẫn dắt đà tăng giá của nhóm vật liệu thiết yếu phục vụ AI: Việc mở rộng hạ tầng AI, gia tăng công suất bán dẫn và đầu tư vào các chương trình quốc phòng đã đưa giá APT bình quân quý II lên 3.245 USD/mtu. Đây là nền tảng tăng trưởng dài hạn của MSR, dựa trên vai trò của doanh nghiệp trong việc cung cấp nguồn vonfram an toàn ngoài Trung Quốc, thay vì chỉ phụ thuộc vào biến động giá hàng hóa.
Sản lượng tinh luyện tăng trước, biên lợi nhuận theo sau: EBITDA của MSR tăng gấp 4,4 lần so với cùng kỳ nhờ tối ưu công suất nhà máy bằng nguồn nguyên liệu vonfram mua ngoài trong giai đoạn chuyển tiếp tại khu khai thác phía Tây.
Quá trình giảm đòn bẩy đang tăng tốc: Tỷ lệ nợ ròng/EBITDA của MSR dự kiến giảm từ 2,1 lần trong quý II/2026 xuống khoảng 1,7 lần vào cuối năm 2026 và tiến tới trạng thái tiền mặt ròng vào cuối năm 2027. Điều này sẽ giúp giảm chi phí lãi vay, nâng cao chất lượng lợi nhuận và mở ra khả năng bắt đầu chi trả cổ tức từ năm 2027.
Chính sách thuế tạo đà tích cực: Việc giảm thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm fluorit và bismuth dự kiến giúp MSR tăng thêm khoảng 2,5 triệu USD lợi nhuận trong nửa cuối năm 2026, tương đương khoảng 5,0 triệu USD nếu tính trên cơ sở cả năm.
Trong quý II/2026, MSR đã công bố những bước tiến trong kế hoạch bổ sung tiềm năng khoảng 115 triệu tấn tài nguyên tại khu vực Núi Pháo mở rộng và Núi Chiếm. Nếu được các cơ quan quản lý phê duyệt, nguồn tài nguyên này có thể kéo dài thêm khoảng 20–30 năm hoạt động khai thác và chế biến.
Song song đó, quan hệ hợp tác với GBI bổ sung nguồn nguyên liệu từ đối tác đã được cam kết, hỗ trợ kế hoạch nâng công suất sản xuất oxit vonfram lên hơn 8.000 tấn WO₃.
Những bước tiến này tiếp tục khẳng định vị thế của MSR là một trong số ít nền tảng chế biến vonfram quy mô lớn ngoài Trung Quốc, đồng thời mở rộng vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược toàn cầu.
Kế hoạch chuyển niêm yết sang sàn HOSE được kỳ vọng sẽ cải thiện thanh khoản, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và tăng cường kết nối với các nhà đầu tư chiến lược.
Cuối cùng, Techcombank (HOSE: TCB) đóng góp 1.450 tỷ đồng vào lợi nhuận của Masan trong quý II, tăng 19,2% so với cùng kỳ, tiếp tục là nguồn đóng góp ổn định vào chất lượng lợi nhuận của tập đoàn.
Lam Giang
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
57 phút trước
6 phút trước
15 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
9 phút trước
12 phút trước
15 phút trước
20 phút trước
20 phút trước