Để văn hóa số trở thành sức mạnh đưa đất nước phát triển: Bài 3: Chuyển hóa di sản văn hóa thành dữ liệu số, tri thức số
Đây là khoảng trống rất lớn bởi nền kinh tế số ngày nay được vận hành bằng dữ liệu và tài sản trí tuệ. Một di tích không chỉ còn là một công trình để tham quan; một câu chuyện lịch sử không chỉ còn là một bài học trong sách giáo khoa; một làn điệu dân ca không chỉ còn được biểu diễn trên sân khấu. Nếu được số hóa, chuẩn hóa và khai thác đúng cách, những giá trị đó có thể trở thành dữ liệu để đào tạo trí tuệ nhân tạo, trở thành học liệu số cho giáo dục, trở thành trò chơi, phim ảnh, sách điện tử, bảo tàng số, trải nghiệm thực tế ảo, sản phẩm du lịch, sản phẩm sáng tạo, sản phẩm văn hóa xuất khẩu và nhiều loại hình dịch vụ mới. Mỗi di sản khi đó không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục tạo ra tri thức, việc làm, doanh thu và ảnh hưởng văn hóa.
Khoảng trống này tồn tại trước hết vì chúng ta vẫn chủ yếu tiếp cận di sản theo tư duy bảo tồn. Phần lớn nguồn lực được dành cho việc gìn giữ hiện trạng, trùng tu và quản lý, trong khi chưa có chiến lược quốc gia về khai thác giá trị số của di sản. Nhiều cơ quan đang lưu giữ một lượng dữ liệu rất lớn nhưng theo các tiêu chuẩn khác nhau, không kết nối được với nhau và cũng chưa mở cho các trường đại học, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu hay cộng đồng sáng tạo khai thác.
Một nguyên nhân khác là sự thiếu liên kết giữa các lĩnh vực. Ngành văn hóa quản lý di sản, ngành khoa học và công nghệ phát triển công nghệ, ngành giáo dục xây dựng học liệu, doanh nghiệp phát triển sản phẩm, nhưng chưa có một cơ chế chung để tất cả cùng tham gia chuyển hóa di sản thành giá trị mới. Vì vậy, nhiều ý tưởng tốt chỉ dừng lại ở các dự án đơn lẻ mà chưa hình thành được một hệ sinh thái sáng tạo. Một di sản văn hóa chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được chuyển hóa thành dữ liệu có thể khai thác, chia sẻ, nghiên cứu và tiếp tục tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và tri thức mới. Khi đó, giá trị của di sản không còn dừng lại ở việc bảo tồn mà trở thành một nguồn tài nguyên có khả năng sinh ra nhiều giá trị liên tục.

Đưa các di sản văn hóa trở thành dữ liệu đầu vào cho trí tuệ nhân tạo (Ảnh minh họa)
Thứ nhất, di sản trở thành kho dữ liệu quốc gia phục vụ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Mỗi hiện vật, công trình kiến trúc, lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công, tư liệu lịch sử hay tri thức dân gian sau khi được số hóa và chuẩn hóa sẽ trở thành một phần của cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia. Đây là nguồn dữ liệu để các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà sáng tạo khai thác, tạo ra các nghiên cứu mới, công nghệ mới và các sản phẩm sáng tạo mới.
Thứ hai, di sản trở thành học liệu số phục vụ giáo dục. Thay vì chỉ đọc vài trang sách giáo khoa, học sinh có thể tham quan một Hoàng thành Thăng Long hay Cố đô Huế bằng mô hình 3D, khám phá một trận đánh lịch sử bằng mô phỏng tương tác, tìm hiểu kiến trúc đình chùa qua hình ảnh số hóa hoặc học lịch sử địa phương bằng các câu chuyện đa phương tiện. Di sản khi đó trở thành một lớp học mở, giúp việc học sinh động, dễ tiếp cận và khơi dậy niềm tự hào về lịch sử, văn hóa dân tộc.
Thứ ba, di sản trở thành dữ liệu đầu vào cho trí tuệ nhân tạo. Các mô hình AI muốn hiểu đúng về Việt Nam phải được đào tạo trên dữ liệu về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, kiến trúc, nghệ thuật và tri thức bản địa. Nếu kho dữ liệu này được xây dựng đầy đủ, AI sẽ có khả năng trả lời chính xác hơn về Việt Nam, hỗ trợ giáo dục, du lịch, nghiên cứu, dịch thuật và nhiều lĩnh vực khác. Khi đó, di sản không chỉ được lưu giữ mà còn trở thành nền tảng tri thức cho các công nghệ tương lai.
Thứ tư, di sản trở thành nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sáng tạo. Một truyền thuyết, một hoa văn cổ, một ngôi đình, một điệu hò hay một câu chuyện lịch sử có thể trở thành cảm hứng để phát triển phim, hoạt hình, trò chơi điện tử, truyện tranh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, quà lưu niệm, triển lãm số hoặc các sản phẩm văn hóa khác. Giá trị của di sản được mở rộng từ bảo tồn sang sáng tạo và thương mại hóa hợp pháp.
Thứ năm, di sản trở thành sản phẩm du lịch trải nghiệm. Du khách không chỉ đến tham quan mà còn có thể sử dụng công nghệ thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR), thuyết minh đa ngôn ngữ bằng AI, bản đồ số hay các trò chơi tương tác để khám phá lịch sử và văn hóa. Điều này giúp kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và nâng cao chất lượng trải nghiệm.
Thứ sáu, di sản trở thành tài sản trí tuệ của quốc gia. Khi các dữ liệu được chuẩn hóa, xác thực và có cơ chế quản lý quyền khai thác, chúng có thể được cấp phép sử dụng cho giáo dục, nghiên cứu, xuất bản, công nghệ hoặc các ngành công nghiệp sáng tạo. Nhờ đó, di sản không chỉ được bảo vệ mà còn tạo ra nguồn thu để tiếp tục đầu tư cho công tác bảo tồn và phát triển.
Thứ bảy, di sản trở thành nguồn lực phát triển kinh tế địa phương. Mỗi địa phương có thể xây dựng các sản phẩm văn hóa số, tuyến du lịch thông minh, bảo tàng số, ứng dụng giới thiệu di sản, bản đồ văn hóa, chương trình giáo dục địa phương và các sản phẩm đặc trưng dựa trên chính dữ liệu di sản của mình. Điều này góp phần tạo việc làm, thu hút doanh nghiệp sáng tạo và nâng cao giá trị thương hiệu của địa phương.
Thứ tám, di sản trở thành sức mạnh mềm của Việt Nam trên không gian số toàn cầu. Khi các câu chuyện, hình ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, kiến trúc và tri thức Việt Nam hiện diện bằng nhiều ngôn ngữ trên các nền tảng số và được AI có thể truy cập, khả năng nhận diện về Việt Nam trên thế giới sẽ được nâng cao. Đây là nền tảng để quảng bá hình ảnh đất nước, thu hút du lịch, đầu tư và hợp tác quốc tế.
Quá trình chuyển hóa giá trị của di sản có thể được hình dung theo một chuỗi liên tục: Di sản Dữ liệu số Tri thức số Tài sản trí tuệ Sản phẩm và dịch vụ Doanh nghiệp và việc làm Giá trị kinh tế Giá trị văn hóa Sức mạnh mềm quốc gia.
Đây mới là đích đến của chiến lược. Nếu chỉ dừng ở việc quét 3D, chụp ảnh hay lập cơ sở dữ liệu thì chúng ta mới hoàn thành bước đầu tiên. Giá trị thực sự chỉ được tạo ra khi dữ liệu di sản trở thành nguồn nguyên liệu cho giáo dục, nghiên cứu, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp sáng tạo, du lịch, đổi mới sáng tạo và các ngành kinh tế mới, qua đó biến vốn văn hóa thành vốn tri thức, vốn dữ liệu và vốn phát triển của quốc gia.
Mục tiêu của số hóa không phải là tạo ra những kho dữ liệu chỉ để lưu trữ, mà là xây dựng một hạ tầng tri thức quốc gia. Mỗi di tích, hiện vật, tài liệu lịch sử, công trình kiến trúc, lễ hội, làn điệu dân ca, nghề truyền thống hay tri thức dân gian sau khi được số hóa cần được chuẩn hóa, phân loại và kết nối thành một cơ sở dữ liệu thống nhất để mọi cơ quan, trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân có thể khai thác theo đúng quy định. Khi đó, di sản không còn là những tài sản nằm yên trong bảo tàng hay kho lưu trữ, mà trở thành nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu, giáo dục, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.
Giá trị đầu tiên mà di sản số mang lại là hình thành một kho dữ liệu văn hóa quốc gia có khả năng phục vụ lâu dài cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu này để nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, ngôn ngữ, mỹ thuật, dân tộc học, khảo cổ học, phát triển các mô hình trí tuệ nhân tạo, xây dựng các công nghệ xử lý ngôn ngữ tiếng Việt, phát triển bản đồ số, mô hình không gian ba chiều và nhiều ứng dụng phục vụ chuyển đổi số.
Giá trị thứ hai là tạo ra một hệ thống học liệu số phục vụ giáo dục. Thay vì tiếp cận lịch sử và văn hóa chủ yếu qua sách giáo khoa, học sinh và sinh viên có thể học tập thông qua các bảo tàng số, mô hình thực tế ảo, bản đồ tương tác, phim tư liệu, thư viện số và các nền tảng học tập hiện đại. Mỗi di sản sẽ trở thành một bài học trực quan, giúp nâng cao chất lượng giáo dục, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và nuôi dưỡng tình yêu đối với lịch sử, văn hóa Việt Nam.
Giá trị thứ ba là tạo nguồn dữ liệu đầu vào cho trí tuệ nhân tạo và nền kinh tế dữ liệu. Trong tương lai, các hệ thống AI sẽ trở thành công cụ phổ biến trong học tập, nghiên cứu và đời sống. Nếu AI được đào tạo trên nguồn dữ liệu đầy đủ, chính xác về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và tri thức Việt Nam, các hệ thống này sẽ có khả năng giới thiệu, giải thích và lan tỏa các giá trị Việt Nam một cách chính xác hơn. Đây là nền tảng để xây dựng chủ quyền dữ liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế trí tuệ nhân tạo.
Giá trị thứ tư là tạo ra nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo. Từ dữ liệu di sản có thể phát triển phim ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, sách điện tử, sản phẩm thiết kế, chương trình giáo dục, triển lãm số, ứng dụng du lịch, thực tế ảo, thực tế tăng cường và nhiều loại hình dịch vụ sáng tạo khác. Khi đó, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục tạo ra doanh thu, việc làm và các doanh nghiệp mới.
Giá trị thứ năm là nâng cao chất lượng du lịch và trải nghiệm văn hóa. Du khách có thể tiếp cận các bảo tàng số, sử dụng trợ lý AI để tìm hiểu lịch sử, trải nghiệm các công trình kiến trúc bằng công nghệ thực tế ảo, khám phá các câu chuyện văn hóa thông qua nền tảng số trước, trong và sau chuyến đi. Điều này không chỉ làm tăng giá trị của mỗi điểm đến mà còn kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và nâng cao sức cạnh tranh của ngành du lịch.
Hiệu quả của chiến lược này không thể chỉ đo bằng số lượng di sản đã được số hóa. Điều quan trọng hơn là phải đo được giá trị mới mà di sản đã tạo ra cho xã hội. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đánh giá quốc gia theo toàn bộ chuỗi giá trị của di sản số. Hệ thống này phải theo dõi được tỷ lệ di sản được số hóa và chuẩn hóa; số lượng dữ liệu được đưa vào sử dụng trong giáo dục và nghiên cứu; số công trình khoa học, mô hình AI, học liệu số và sản phẩm sáng tạo được hình thành từ dữ liệu di sản; số doanh nghiệp, startup và việc làm mới khai thác tài nguyên văn hóa; doanh thu từ các sản phẩm văn hóa số, du lịch số và công nghiệp sáng tạo; đồng thời đánh giá mức độ hiện diện của văn hóa Việt Nam trên các nền tảng số và trong các hệ thống trí tuệ nhân tạo toàn cầu.
(Còn tiếp)
NAM THUẬN - DUY LUÂN
12 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
12 ngày trước
2 giờ trước
8 phút trước
1 giờ trước
18 phút trước
24 phút trước
31 phút trước
35 phút trước
48 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước