🔍
Chuyên mục: Thời sự

Đẩy mạnh công tác đối ngoại phục vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam

1 giờ trước
Theo Phó trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Hiển, công tác đối ngoại cần trở thành một trong những lực lượng quan trọng phục vụ đổi mới mô hình phát triển của đất nước.

Tại Phiên toàn thể về "Ngoại giao phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới", diễn ra ngày 4/8, Phó Trưởng ban Nguyễn Đức Hiển đã có bài tham luận với chủ đề “Đẩy mạnh công tác đối ngoại phục vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”.

Đồng chí Nguyễn Đức Hiển cho biết, Nghị quyết số 19 của Hội nghị Trung ương 3 Khóa XIV đã xác định Mô hình phát triển tổng quát của Việt Nam đến năm 2045 là Mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính.

Đồng thời, Nghị quyết cũng xác định 7 mô hình phát triển thành phần theo các lĩnh vực, cụ thể là: (1) Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; (2) Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; (3) Mô hình phát triển văn hóa, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; (4) Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; (5) Mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; (6) Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; (7) Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển.

Phó Trưởng ban Nguyễn Đức Hiển đánh giá, mô hình đối ngoại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi vừa tạo ra điều kiện, không gian và nguồn lực cho sự phát triển của từng mô hình thành phần, vừa kết nối và khuếch đại sức mạnh tổng hợp, qua đó thúc đẩy sự thành công của tổng thể mô hình phát triển đất nước. Đặc biệt, năm thành tố chủ động – toàn diện – hiệu quả – bản sắc – kiến tạo phát triển chính là năm đặc trưng cốt lõi của Mô hình đối ngoại trong thời gian tới.

Trên cơ sở đó, đồng chí Nguyễn Đức Hiển làm rõ nội hàm và các giải pháp chủ yếu tương ứng với từng thành tố trên cơ sở bám sát Nghị quyết 19 và Chương trình hành động số 33-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết.

Thứ nhất, tính CHỦ ĐỘNG. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, đối ngoại phải chủ động về chiến lược, dự báo và định hình cục diện, thay vì bị động ứng phó. Để bảo đảm tính chủ động, chúng tôi cho rằng cần trọng tâm tập trung vào ba nhóm giải pháp:

Một là, nâng cao năng lực tham mưu chiến lược, nghiên cứu và dự báo đối ngoại. Phân tích sớm các xu hướng lớn về địa chính trị, địa kinh tế, khoa học và công nghệ, chuỗi cung ứng. Tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong công tác tham mưu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Hai là, chủ động định hình môi trường quốc tế thuận lợi: củng cố vành đai an ninh – phát triển với các nước láng giềng. Giữ quan hệ cân bằng, hài hòa, đan xen lợi ích chiến lược với các nước lớn. Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình.

Ba là, chủ động quản trị rủi ro, đa dạng hóa đối tác, thị trường, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái công nghệ, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ đối tác hay hệ sinh thái nào, giữ vững tự chủ chiến lược.

Thứ hai, tính TOÀN DIỆN. Đối ngoại là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cần triển khai trên tất cả các lĩnh vực và với sự tham gia của nhiều chủ thể. Để bảo đảm tính toàn diện, cần lưu ý các giải pháp sau:

Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất và phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành và địa phương.

Hai là, triển khai đồng bộ các loại hình ngoại giao chuyên ngành: ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, ngoại giao số, ngoại giao văn hóa, ngoại giao khí hậu. Gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và khoa học và công nghệ.

Ba là, nâng cao năng lực đối ngoại và hội nhập quốc tế của chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong đối ngoại Nhân dân, ngoại giao tri thức, công nghệ và số.

Thứ ba, tính HIỆU QUẢ. Đối ngoại phải lấy kết quả thực chất làm thước đo, chuyển hóa quan hệ chính trị tốt đẹp thành dòng chảy thực chất về vốn, công nghệ, thị trường và nguồn lực phát triển. Các giải pháp trọng tâm gồm:

Một là, khẩn trương xây dựng và triển khai Chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới.Nhiệm vụ này đã được Chương trình hành động số 33 giao hoàn thành xây dựng trong giai đoạn 2026 – 2027, với mục tiêu, lộ trình và sản phẩm đầu ra cụ thể.

Hai là, triển khai hiệu quả nội hàm các khuôn khổ quan hệ đối tác đã thiết lập, đồng thời xem xét nâng cấp quan hệ với một số đối tác vào thời điểm thích hợp. Phát huy vai trò của ngoại giao nguyên thủ và đối ngoại cấp cao, gắn mỗi hoạt động đối ngoại cấp cao với những kết quả cụ thể về thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ.

Ba là, lấy ngoại giao kinh tế làm trọng tâm. Thực hiện hợp tác chiến lược có chọn lọc, phù hợp với nhu cầu phát triển và năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Gắn kết chặt chẽ đối ngoại chính trị với hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ tư, tính BẢN SẮC. Đối ngoại không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam, lan tỏa sức mạnh mềm dân tộc. Để phát huy bản sắc, cần lưu ý các giải pháp sau:

Một là, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Kiên trì giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo bằng biện pháp hòa bình.

Hai là, đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Chuyển từ hội nhập văn hóa sang chủ động thúc đẩy ảnh hưởng đến bản sắc, nâng cao sức mạnh mềm và thương hiệu quốc gia.

Ba là, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại “vừa hồng, vừa chuyên”, khơi dậy tinh thần “6 dám”: dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn vì lợi ích đất nước.

Thứ năm, tính KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN. Đây là điểm mới cốt lõi nhất, đặt “ngoại giao kiến tạo phát triển” vào vị trí trung tâm, chuyển từ thu hút nguồn lực sang chủ động mở rộng không gian phát triển và kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Các giải pháp then chốt cần lưu ý gồm:

Một là, đẩy mạnh ngoại giao công nghệ và ngoại giao số. Nâng cấp, hoàn thiện mạng lưới các đầu mối phụ trách về ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo tại các cơ quan đại diện.

Hai là, xây dựng và triển khai các cơ chế đặc thù thu hút đối tác chiến lược, tập đoàn đa quốc gia, tổ chức nghiên cứu, chuyên gia và nhân tài quốc tế tham gia các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Ba là, nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt tại các cơ chế khu vực và toàn cầu. Chủ động tham gia định hình các chuẩn mực quốc tế mới về kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), tài chính xanh, an ninh mạng và chuỗi cung ứng. Thúc đẩy Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị và mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Đổi mới mô hình phát triển là một sự thay đổi sâu sắc, có ý nghĩa lịch sử. Công tác đối ngoại phải đóng vai trò tiên phong, mở đường, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài để kết hợp với sức mạnh bên trong, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Phó trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển nêu rõ.

Hải Anh

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ