🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Đánh thức nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên số

18 giờ trước
Việc Chính phủ ban hành Quyết định số 611 phê duyệt Đề án 'Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045' là bước cụ thể hóa kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa trước những yêu cầu của kỷ nguyên số.

Sự kiện Hòa nhạc Ánh sáng-Chào năm mới 2026 do Báo Nhân Dân phối hợp với UBND thành phố Hà Nội tổ chức. (Ảnh THẾ ĐẠI)

Việc Chính phủ ban hành Quyết định số 611 phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” là bước cụ thể hóa kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa trước những yêu cầu của kỷ nguyên số, nơi công nghệ trở thành một trong những trụ cột định hình cách thức sáng tạo, lưu giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc.

Đề án hướng tới xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số quốc gia hiện đại, kết nối và có khả năng tạo ra giá trị gia tăng. Đề án xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; toàn bộ dữ liệu di sản được chuẩn hóa theo khung tiêu chuẩn quốc gia và từng bước mở rộng chia sẻ; khoảng 80% di sản văn hóa số có mã định danh nhằm xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác.

Đáng chú ý, việc số hóa ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số sẽ góp phần quan trọng trong việc gìn giữ những giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một, đồng thời tạo điều kiện để các cộng đồng này tham gia sâu hơn vào đời sống văn hóa số quốc gia.

Cùng với đó, 100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa kết nối và đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành; 100% đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập của ngành văn hóa có kế hoạch và lộ trình chuyển đổi số phù hợp. 100% hệ thống Thư viện quốc gia, Bảo tàng quốc gia về lịch sử và văn hóa, các bảo tàng công lập tập trung triển khai hoàn thiện Thư viện số, Bảo tàng số,... Đến năm 2045, phát triển hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, tương tác cao.

Tour đêm Văn Miếu ứng dụng chuyển đổi số thu hút nhiều du khách đến thưởng lãm. (Ảnh: Ban tổ chức)

Trước đây, chuyển đổi số trong văn hóa thường được hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu là số hóa hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu hay tổ chức tham quan trực tuyến; nhưng hiện nay, phạm vi đã được mở rộng sang việc tái cấu trúc toàn bộ phương thức vận hành của lĩnh vực văn hóa trong môi trường số, với yêu cầu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam.

Đề án nhấn mạnh vai trò của dữ liệu văn hóa như một nguồn tài nguyên quan trọng, do đó việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa với khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác được coi là nền tảng để hình thành các ngành công nghiệp sáng tạo.

Đặt Đề án trong mối tương quan với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, cho thấy sự nhất quán trong tư duy, đồng bộ trong việc triển khai thực hiện. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược.

Tiếp đến Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa. Trên tinh thần đó, Đề án là sự cụ thể hóa kịp thời, đưa các định hướng lớn vào thực tiễn.

Nhận định về Đề án vừa được phê duyệt, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) bày tỏ: Đề án là một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa ở Việt Nam.

Trong bối cảnh công nghệ số đang định hình lại phương thức sáng tạo và lan tỏa các giá trị, việc xây dựng hệ sinh thái văn hóa số không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là lựa chọn chiến lược. Chuyển đổi số mở ra khả năng bảo tồn hiệu quả hơn các tài nguyên văn hóa, đồng thời tạo điều kiện để di sản được tiếp cận và diễn giải theo những hình thức mới, phù hợp với đời sống đương đại.

Những năm gần đây, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam đã có những bước đi ban đầu đáng ghi nhận. Tiêu biểu như tại Hà Nội, nhiều bảo tàng đã ứng dụng công nghệ trong trưng bày, triển khai thuyết minh tự động, xây dựng các tour tham quan ảo. Một số di tích như Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long hay Di tích Nhà tù Hỏa Lò đã phát triển các sản phẩm số, thu hút sự quan tâm của công chúng, nhất là giới trẻ.

Tuy nhiên, nếu nhìn một cách toàn diện, quá trình này vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương. Có nơi vẫn chưa ý thức đúng đắn về sự cần thiết và cấp bách của chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, lúng túng trong việc lựa chọn công nghệ phù hợp, thiếu nguồn lực tài chính cũng như nhân lực có khả năng kết nối giữa văn hóa và công nghệ. Không ít dự án dừng lại ở mức thử nghiệm, mang tính trình diễn, chưa tạo ra giá trị thực chất cho cộng đồng hay thị trường.

Theo các chuyên gia, một trong những “nút thắt” lớn hiện nay là nguồn nhân lực. Chuyển đổi số trong văn hóa đòi hỏi đội ngũ vừa am hiểu chuyên môn, vừa có năng lực công nghệ, có khả năng làm việc với dữ liệu và các nền tảng số, tuy nhiên, lực lượng này còn thiếu và chưa đồng đều. Việc Đề án đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức, văn nghệ sĩ và sinh viên trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được trang bị kỹ năng số là một định hướng đúng đắn, nhưng để hiện thực hóa cần có lộ trình và giải pháp cụ thể, gắn với đổi mới chương trình đào tạo và cơ chế sử dụng nhân lực.

Cơ chế, chính sách cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm. Bởi chuyển đổi số không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà cần sự tham gia của khu vực tư nhân, cũng như các doanh nghiệp công nghệ và nội dung số. Nhưng hành lang pháp lý cho hợp tác công-tư trong lĩnh vực văn hóa hiện vẫn còn những khoảng trống, nhất là trong các vấn đề liên quan đến khai thác dữ liệu, phân chia lợi ích và bảo vệ bản quyền.

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam phân tích: Chuyển đổi số trong văn hóa không đơn thuần là “đưa lên môi trường mạng”, mà đòi hỏi phải bảo đảm giá trị truyền thống không bị mất đi hay biến dạng. Nếu thiếu chuẩn mực và cách tiếp cận phù hợp, quá trình số hóa có thể dẫn đến việc giản lược, sai lệch hoặc làm phai nhạt ý nghĩa nguyên bản của di sản, nhất là khi tách rời khỏi không gian văn hóa vốn có.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Phương Hậu phân tích: Khi văn hóa ngày càng gắn với kinh tế sáng tạo và công nghiệp nội dung số, việc thúc đẩy số hóa, kết nối và khai thác các nguồn tài nguyên văn hóa sẽ góp phần hình thành những động lực phát triển mới.

Từ góc độ đó, Đề án không chỉ hướng đến hiện đại hóa công tác quản lý văn hóa, mà còn đặt nền móng cho việc phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong không gian số, đồng thời mở rộng cơ hội sáng tạo và tham gia của xã hội vào quá trình gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc trong thời đại số. Do đó vấn đề tiếp theo là tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả, với sự tham gia của toàn xã hội...

Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của công nghệ trong quá trình chuyển đổi số, nhưng con người, với tri thức, bản lĩnh và ý thức gìn giữ bản sắc, khả năng sáng tạo mới chính là yếu tố quyết định. Khi hai yếu tố này được kết hợp hài hòa, đồng bộ, văn hóa Việt Nam sẽ được chắp thêm “đôi cánh” để lan tỏa mạnh mẽ và khẳng định vị thế trong không gian số toàn cầu.

PHONG ĐIỆP

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ