🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

2 giờ trước
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa mới công bố, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Việt Nam tiếp tục ghi nhận những tín hiệu khởi sắc trong quý II/2026 và sáu tháng đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) duy trì mức tăng hai con số, cao nhất kể từ năm 2019. Kết quả này phản ánh đà phục hồi vững chắc của khu vực sản xuất; đồng thời, khẳng định vai trò đầu tàu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chế biến cá tra xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Sao Mai (An Giang). Ảnh tư liệu: Vũ Sinh/TTXVN

Theo Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,3%; khai khoáng tăng 7,0%.

“Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, IIP tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025, vượt mức tăng 8,7% của cùng kỳ năm 2025 và là tốc độ tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Đây là tín hiệu cho thấy hoạt động sản xuất đang phục hồi đồng đều, nhờ sự cải thiện của nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư”, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết.

Nổi bật, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng tiếp tục là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khi tăng 11,4%, đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, khai khoáng tăng 5,8% sau khi giảm trong cùng kỳ năm 2025, cho thấy sự cải thiện rõ rệt của các lĩnh vực sản xuất nền tảng.

Nhiều ngành công nghiệp cấp II đạt mức tăng trưởng nổi bật như sản xuất kim loại tăng 21,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 17,7%; sản xuất đồ uống tăng 15,4%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 14,9%; hóa chất tăng 14,8%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 13,9%...

Ở chiều ngược lại, một số ngành vẫn tăng trưởng thấp hoặc suy giảm, như sản xuất da và các sản phẩm liên quan chỉ tăng 4%, trong khi khai thác than cứng và than non giảm 5,7%. Điều này phản ánh sự phân hóa giữa các nhóm ngành, song không làm thay đổi xu hướng phục hồi chung của toàn ngành công nghiệp.

Xét theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm tăng tại toàn bộ 34 tỉnh, thành phố. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng cao nhờ công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất điện phát triển mạnh. Đơn cử những địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sáu tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 như: Quảng Ninh tăng 37,8%; Hà Tĩnh tăng 30,7%; Ninh Bình tăng 27,7%; Phú Thọ tăng 25,8%; Nghệ An tăng 25,0%...

Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao là Hà Tĩnh tăng 48,3%; Phú Thọ tăng 18,3%; Điện Biên tăng 15,6%. Mức tăng này cho thấy động lực tăng trưởng công nghiệp đang lan tỏa trên phạm vi cả nước.

Ông Trần Duy Đông, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ cho biết, sau khi hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ đang hình thành không gian phát triển mới với quy mô kinh tế lớn hơn, hệ thống hạ tầng công nghiệp - logistics - giao thông kết nối ngày càng đồng bộ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lại chuỗi sản xuất và mở rộng năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn.

“Khu vực sản xuất công nghiệp của tỉnh, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ cao, các ngành hàng chủ lực như điện tử, máy tính, linh kiện, thiết bị công nghiệp công nghệ cao tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, không chỉ đóng góp lớn về kim ngạch xuất khẩu còn là ngành quan trọng tạo nên giá trị gia tăng ngày càng cao cho nền kinh tế tại địa phương”, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ nhấn mạnh.

Cùng với sản xuất, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực đạt mức tăng trưởng ấn tượng như xe máy tăng 32,9%; ô tô tăng 26,9%; thép cán tăng 23,3%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; đường kính tăng 16,8%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14%; dầu mỏ thô khai thác tăng 13,1%. Trong khi đó, phân NPK, bột ngọt, than sạch và giày dép da vẫn ghi nhận mức giảm so với cùng kỳ.

Về diễn biến thị trường tiếp tục cho thấy sức cầu được cải thiện. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong sáu tháng đầu năm tăng 10,8%, cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2025. Đồng thời, tỷ lệ tồn kho bình quân giảm còn 82,2%, thấp hơn mức 85,7% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy hàng hóa được tiêu thụ thuận lợi hơn và vòng quay sản xuất được cải thiện.

Bên cạnh đó, thị trường lao động ghi nhận xu hướng tích cực khi số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 3,2%, phản ánh niềm tin của doanh nghiệp vào triển vọng mở rộng sản xuất trong thời gian tới.

Có thể thấy mức tăng trưởng công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 cao nhất kể từ năm 2019 không chỉ phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực sản xuất mà còn tạo nền tảng quan trọng để kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao trong năm 2026. Với công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt cùng sự cải thiện về tiêu thụ, lao động và năng lực sản xuất, khu vực công nghiệp được kỳ vọng sẽ tiếp tục là động lực then chốt, củng cố tăng trưởng kinh tế năm 2026.

Kim Long Motor Huế định hướng trở thành trung tâm khu vực về sản xuất ô tô. Ảnh: Nguyên Lý/TTXVN

Bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê cho biết, bức tranh sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 đã ghi nhận đà phục hồi mang tính thực chất. Sự lạc quan của cộng đồng doanh nghiệp (với gần 80% doanh nghiệp chế biến, chế tạo (được khảo sát) đánh giá quý II tốt lên và giữ ổn định, cùng 83,4% dự báo quý III tiếp tục khả quan hơn)

Tuy nhiên, bên cạnh sự ghi nhận đà phục hồi này, hiện, có đến 94,6% doanh nghiệp (được khảo sát) nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm đang tăng hoặc neo ở mức cao. Nguyên nhân chủ yếu do biến động địa chính trị làm đứt gãy chuỗi logistics, đẩy giá cước vận tải biển và giá nguyên liệu lên cao.

Vì vậy, để bảo vệ biên lợi nhuận và biến sự lạc quan thành hiện thực, kiến nghị cấp thiết nhất hiện nay của gần 47% doanh nghiệp (được khảo sát) là mong muốn các cơ quan quản lý tiếp tục có biện pháp bình ổn giá nguyên vật liệu, năng lượng; đồng thời, duy trì mặt bằng lãi suất vay ở mức hợp lý.

Theo Cục trưởng Cục Thống kê, đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, giải pháp đầu tiên là phải bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định và đầy đủ để phục vụ sản xuất; đồng thời, khơi thông đầu ra một cách kịp thời.

“Cùng với đó, chúng ta cần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, bởi hiện nay lượng nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo, đang ở mức rất lớn và đã được dự trữ khá dồi dào. Điều quan trọng là phải mở rộng thị trường tiêu thụ để phát huy hiệu quả nguồn nguyên liệu này”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.

Thúy Hiền (TTXVN)

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ