Cơ sở khoa học và thực tiễn Việt Nam có khả năng tăng trưởng hai con số
Luận điệu xuyên tạc gây hoài nghi, phân tâm trong xã hội
Trong lịch sử kinh tế thế giới, tăng trưởng hai con số luôn được coi là một “ngưỡng cửa thần kỳ”, là dấu mốc phân định giữa các quốc gia chấp nhận sự bình lặng của “bẫy thu nhập trung bình”.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam đã bị các thế lực thù địch cho rằng “duy ý chí”, “phi thực tế”, "ảo tưởng". Những luận điệu xuyên tạc này thể hiện ở 3 khía cạnh. Thứ nhất, họ cho rằng nội lực nền kinh tế Việt Nam còn yếu, hệ thống thể chế còn nhiều điểm nghẽn nên không thể đạt tốc độ tăng trưởng cao. Thứ hai, họ đưa ra cái gọi là cảnh báo rằng tăng trưởng cao sẽ kéo theo hệ lụy về môi trường, gia tăng bất bình đẳng xã hội, từ đó phủ nhận tính chính đáng của mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam. Thứ ba, Việt Nam muốn đạt tăng trưởng cao thì phải thay đổi mô hình chính trị, thực chất nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Những luận điệu này không chỉ sai lệch về mặt khoa học mà còn gây ra những tác động tiêu cực về chính trị-xã hội. Nguy hại nhất là làm xói mòn niềm tin trong xã hội. Khi niềm tin của nhân dân bị lung lay, xã hội dễ rơi vào trạng thái hoài nghi, thiếu đồng thuận, làm suy giảm động lực phát triển và cản trở quá trình triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cơ sở khoa học và thực tiễn Việt Nam có khả năng tăng trưởng hai con số
Theo quan điểm mác xít, lực lượng sản xuất phát triển cao là điều kiện kinh tế vật chất để xây dựng chủ nghĩa xã hội và tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân có cuộc sống no ấm, văn minh, hạnh phúc. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng suất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt. Đây là tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, qua các kỳ đại hội, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (năm 1986) đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường. Đại hội XIV của Đảng xác định: Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để rút ngắn khoảng cách, tiến kịp và vượt lên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số.
Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước được tăng lên, tạo ra những điều kiện, tiền đề cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bền vững. Trong 4 thập niên qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Ảnh minh họa: vneconomy.vn
Trong giai đoạn đầu đổi mới 1986-1990, tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân chỉ đạt 4,4%/năm. Đến giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Trong 10 năm, 1990-2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%/năm. Giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7%/năm. Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,9%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 6,01%/năm. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực và được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đánh giá nằm trong tốp 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019. Giai đoạn 2021-2025, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng ở mức khá cao so với khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt 6,2%/năm. Quy mô GDP từ 346,6 tỷ USD năm 2020, xếp thứ 37 trên thế giới, tăng lên hơn 514 tỷ USD năm 2025, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới.
Sau 40 năm tăng trưởng và tích lũy, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, chất lượng tăng trưởng có sự chuyển biến tích cực, các cân đối vĩ mô được bảo đảm. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội có bước phát triển bứt phá, chất lượng được cải thiện, nhiều công trình hạ tầng quan trọng, quy mô lớn được đầu tư, nâng cấp, góp phần làm thay đổi rõ rệt diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới.
Xác định các giải pháp khả thi để hiện thực hóa mục tiêu, tầm nhìn chiến lược
Việt Nam có nhiều lợi thế quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trước hết là lợi thế về vị trí địa kinh tế, nằm trong khu vực phát triển năng động bậc nhất thế giới, thuận lợi cho hội nhập và thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, lực lượng lao động trẻ, năng động, có khả năng tiếp thu công nghệ nhanh là một nguồn lực quý giá. Nhiều nguồn lực mới, động lực mới cho tăng trưởng đang được khai thác, phát huy một cách mạnh mẽ và hiệu quả, nhất là từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; công nghiệp văn hóa; các mô hình kinh tế mới; không gian phát triển mới của các địa phương sau sáp nhập; giá trị thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm Việt Nam...
Để phát huy tiềm năng, lợi thế đó, Đảng ta đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Với quan điểm “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững”, Đảng ta xác định đầu tư cho thể chế là đầu tư cho sự phát triển. Nâng cao chất lượng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập quốc tế, bảo đảm tính ổn định, đồng thời có độ mở phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Ban hành cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các dự án quy mô lớn, trọng điểm.
Nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Đảng ta xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên nền tảng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò là động lực chủ đạo; có chính sách vượt trội cho lao động sáng tạo, tháo gỡ triệt để các rào cản về quản lý, đầu tư và tự chủ, qua đó khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao.
Cùng với đó, Đảng ta xác định nhiệm vụ giải pháp xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yêu cầu mang tính đột phá chiến lược. Từ đó tập trung đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế, ưu tiên các lĩnh vực mũi nhọn và công nghệ chiến lược như: Trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến, tự động hóa và các ngành kinh tế-kỹ thuật then chốt, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ công nghệ.
Đảng ta khẳng định, việc gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường như một trụ cột xuyên suốt của chiến lược phát triển. Bảo đảm bền vững xã hội thông qua phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, nhân cách, trí tuệ, thể lực, năng lực sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp; tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người trong thời kỳ mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xã hội văn minh, củng cố các giá trị đoàn kết, nhân ái và trách nhiệm. Trên nền tảng đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là chỉ tiêu kinh tế mà còn là định hướng chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường trong dài hạn.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải là sự lựa chọn cảm tính mà là mục tiêu phấn đấu của tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới, phản ánh khát vọng vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Do đó, những luận điệu xuyên tạc về mục tiêu này cần được nhận diện và phản bác kịp thời, trên cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn phát triển sinh động của đất nước. Việc kiên định mục tiêu này và triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá sẽ tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá, phát triển nhanh và bền vững. Đó là cơ sở để chúng ta củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, qua đó hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ 21.
"Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, đất nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa khát vọng đó đòi hỏi tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng khó khăn, thách thức lớn hơn, nặng nề hơn, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng trưởng hai con số, chúng ta không thể đi theo lối mòn cũ, tư duy cũ, cách làm cũ, mà phải có "Tầm nhìn chiến lược-Tư duy đột phá-Hành động quyết liệt-Tăng trưởng bền vững-Nhân dân hạnh phúc". Đó cũng chính là khẩu hiệu, là tinh thần và mục tiêu để Hội đồng Thi đua-Khen thưởng Trung ương quyết định phát động phong trào thi đua "Quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số giai đoạn 2026-2030". (Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng)
Đại tá, TS NGUYỄN VĂN LỢI - Thượng tá, TS LẠI QUÂN SÙNG (Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị)
3 giờ trước
5 giờ trước
7 giờ trước
18 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
6 phút trước
1 giờ trước
36 phút trước
6 phút trước
3 phút trước
8 phút trước
9 phút trước
9 phút trước
13 phút trước
25 phút trước
28 phút trước
28 phút trước