Có những cuộc trở về mang màu huyền thoại

Những người đồng đội chụp bức ảnh lưu niệm khi đến thăm gia đình ông Đỗ Anh Tuấn dịp 30/4/2026.
Vị mặn sinh tồn nơi "địa ngục trần gian"
Tháng Tư năm 2026, hơn nửa thế kỷ đằng đẵng đã trôi qua kể từ ngày lịch sử non sông thu về một mối. 51 năm, một độ lùi thời gian đủ dài để lớp bụi mờ khép lại những vết thương rỉ máu, nhưng cũng vừa vặn để chúng ta nhìn nhận và tôn vinh những kỳ tích sinh tồn của con người.
Trong không khí rợp cờ hoa của những ngày tháng Tư lịch sử, khi cả nước hân hoan hướng về Ngày Giải phóng miền Nam 30-4, tôi may mắn được dự một cuộc hội ngộ kỳ lạ và xúc động nhất trong hơn 2 thập kỷ cầm bút của mình: Cuộc gặp mặt của những người lính can trường thuộc Sư đoàn 5 Đông Nam Bộ năm xưa, nay ngồi cạnh nhau, bàn tay đồi mồi run run cầm chính tờ giấy báo tử của đời mình.
Trưởng Ban Liên lạc Ngô Hồng Mưu hóm hỉnh giới thiệu về hai nhân vật chính: Ông Đỗ Anh Tuấn (sinh năm 1940) và ông Trần Duy Minh (sinh năm 1947). Ông Mưu cười bảo: "Các ông ấy đều có giấy báo tử từ nửa thế kỷ trước, bàn thờ đã lập ở quê nhà, không là ma thì là gì!". Tiếng cười hiền khô vang lên, nhưng nơi khóe mắt trũng sâu của họ đều đang rưng rưng những giọt nước mắt nhọc nhằn.
Nằm khuất lấp sau những tán đa cổ thụ tại tổ dân phố Tuần, phường Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, ngôi nhà đơn sơ của cựu chiến binh Trần Duy Minh vương đầy hoài niệm. Nhìn vóc dáng gầy guộc, bé nhỏ của ông ở tuổi xế chiều, ít ai ngờ con người ấy từng là một “khối thép” bị nung đỏ và rèn giũa qua những đòn thù tàn khốc nhất tại ngục tù Phú Quốc.
Tháng 2-1972, đơn vị ông nhận lệnh tử thủ chốt chặn gần sông Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) nhằm chặt đứt dã tâm cản đường chi viện của địch. Rạng sáng, ta làm chủ trận địa. Ông Minh cùng 5 đồng đội được phân công ở lại giữ chốt. Bị chiếm mất căn cứ quan trọng, địch điên cuồng quay lại dội bom liên tiếp nhằm hủy diệt trận địa.
Bom giặc rải rền rĩ suốt tám tiếng đồng hồ liên tục, cày xới đất đá đến mức một nhành cây ngọn cỏ cũng chẳng thể vẹn nguyên. Khi khói bom tạm tan, địch dùng máy bay lùng sục và phát hiện ông Minh bị vùi lấp nhưng người vẫn còn ấm, chúng liền đưa ông lên máy bay bắt đi.
Ở lại trận địa, những người đồng đội đau xót lượm lặt chút xương thịt còn sót lại vương vãi trên đất, chia đều làm sáu phần mộ chôn cất vội vàng gần bờ sông Sa Thầy.

Giấy báo tử được ông Tuấn nâng niu gìn giữ hơn 50 năm qua.
Sáu tháng sau, tờ giấy báo tử ghi ngày hy sinh 14/2/1972 được gửi về quê nhà. Nhận tin con, mẹ ông khụy ngã, gọi tên con đến khi âm thanh đứt đoạn không thành tiếng, hễ cứ nhìn lên bàn thờ là bà lại ngất lịm. Bấy giờ tài sản lớn nhất của gia đình chỉ có chiếc xe đạp, người cha già cũng xót xa đem bán để lấy tiền mua đồ lễ làm ma cho con trai.
Bị địch bắt, ông Minh bị tra tấn dã man suốt một tháng rưỡi để khai thác thông tin, rồi bị đày ra nhà tù Phú Quốc. Tại đây, ông nếm trải đủ mọi cực hình, từ trói bằng dây thép gai trong chuồng cọp, đóng tay vào bàn đinh, cho đến bị rút từng cái móng tay. Sự tàn độc của kẻ thù không dừng lại ở đòn roi.
Đối phó những đợt tù binh tuyệt thực phản đối kéo dài, chúng còn hiểm ác cắt toàn bộ nước ngọt. Đói có thể chịu, nhưng khát thì bức tử con người. Giữa lằn ranh sinh tử, ông cùng anh em tù binh mưu trí lấy nước mắm đun cạn thành bột, nhét vào vỏ tuýp kem đánh răng rỗng. Những lúc cơn khát vắt kiệt sức lực, chỉ cần nhấm một chút “kem đánh răng” mặn chát ấy để tiết nước bọt, cầm cự để quyết không quy hàng.
Chuyến độc hành xuyên rừng và giọt nước mắt da cam
Số phận đôi khi tạo ra sự trùng hợp đến quặn lòng. Tờ giấy báo tử của ông Minh về đến xã Đắc Sơn không cách bao lâu so với giấy báo tử của người em họ Đỗ Anh Tuấn. Hai anh em cành trên cành dưới, nhà ở hai bên bờ sông Công. Ngày xã tổ chức lễ truy điệu chung, cô y tá trạm xá tên Sáu phải dùng mảng chèo mải miết giữa hai bờ sông, bởi mẹ và vợ ông Tuấn vừa tỉnh thì mẹ ông Minh lại ngất.

Cuốn nhật ký viết lại những kỷ niệm thời quân ngũ của ông Đỗ Anh Tuấn. Trong ảnh lần lượt từ phải sang trái: Ông Trần Duy Minh, ông Đỗ Anh Tuấn và ông Ngô Hồng Mưu.
Là em nhưng ông Tuấn hơn ông Minh bảy tuổi. Trận đánh khiến ông trở thành “liệt sĩ” diễn ra vào đầu mùa khô năm 1969, khi Trung đoàn 2 được lệnh đánh tập kích tiêu hao sinh lực địch vào khu vực đường 20, chi khu La Ngà - Định Quán thuộc tỉnh Đồng Nai.
Trận chiến kết thúc chớp nhoáng, khi các bộ phận đang rút lui thì đột ngột bị máy bay B52 và pháo bầy của địch phản kích rền vang như xé nát bầu trời. Là Trạm trưởng Trạm quân giới ở lại chuẩn bị rút sau cùng, hầm của ông Tuấn bị trúng bom nổ tung. Khi vật lộn thoát được ra ngoài, đơn vị đã rút đi hết. ông đành cắt rừng, cứ nhằm hướng Tây mà đi để tìm về căn cứ nơi biên giới Campuchia.
Một mình giữa rừng thiêng nước độc, ông lót dạ bằng lá rừng, uống nước suối cầm hơi, ngày lẩn tránh bom đạn, đêm trốn thú dữ. Gần một tháng ròng rã, nhờ những kiến thức sinh tồn được huấn luyện trước khi đi B, ông lết được về đến trạm quân giới ở sóc Bom Bo nhưng đơn vị cũ đã hành quân đi từ lâu. Mất liên lạc hoàn toàn, Trung đoàn đành làm giấy báo tử gửi về quê nhà.
Ở quê, người vợ trẻ Lại Thị Nga nhận tin sét đánh, chỉ biết ôm chặt đứa con gái gục khóc bên bậc thềm. Bà Nga ngậm ngùi nhớ lại: “Ngày ấy, khó khăn lắm tôi mới mua được con lợn 53kg làm lễ tang cho chồng. Tự tay tôi xé 100 chiếc khăn tang trắng phát cho họ hàng...”. Thế rồi, ngày đất nước thống nhất, người chồng tưởng chừng đã hóa tro bụi ấy đột ngột trở về bằng xương bằng thịt.

Vợ chồng ông Đỗ Anh Tuấn và bà Lại Thị Nga.
Nhưng nước mắt đoàn tụ chưa kịp khô, bi kịch lại giáng xuống. Năm 1976, ông bà sinh thêm một cô con gái. Đứa trẻ ra đời lành lặn, nhưng nuôi 17 tháng mà chân tay chỉ teo tóp như chiếc chuôi liềm, không biết bú mẹ. Ông bà chắt bóp từng đồng tem phiếu, mua đường pha nước cho con cầm cự.
Đôi mắt người cựu chiến binh già đỏ hoe: “Ngày ấy đâu biết chất độc da cam là gì. Cháu ăn hết 75kg đường trong 17 tháng rồi lặng lẽ bỏ chúng tôi mà đi...”. Đó là ranh giới khắc nghiệt của chiến tranh, nơi sự trở về vẹn nguyên đôi khi phải đánh đổi bằng những di chứng bào mòn ruột gan đến hết phần đời còn lại.
Gấp lại tập sổ tay giữa những ngày tháng Tư rực nắng, tôi cứ ngồi lặng đi rất lâu bên những dòng chữ vừa chấp bút. Hình ảnh hai cựu chiến binh, đôi bàn tay đồi mồi run run chạm vào tờ giấy báo tử của chính mình cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi.
Tôi càng thấm thía cái giá của hòa bình. Câu chuyện về những người lính bước ra từ giấy báo tử không thuộc về quá vãng xa xôi, mà vẫn đang hiện hữu nhắc nhở tôi về một dáng hình Tổ quốc được tạc nên từ máu xương, từ những giọt nước mắt lặng thầm và cả những sự hồi sinh kỳ diệu.
Kim Ngân
2 giờ trước
55 phút trước
4 giờ trước
4 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
6 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
10 giờ trước
10 giờ trước