Chủ động nguồn nguyên liệu, sẵn sàng cho lộ trình sử dụng xăng sinh học

Việc chuyển sang sử dụng xăng sinh học E10 trên phạm vi cả nước dự kiến bắt đầu từ ngày 1/6/2026
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới liên tục biến động, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Bên cạnh việc duy trì nguồn cung nhiên liệu truyền thống, Việt Nam đang thúc đẩy phát triển nhiên liệu sinh học như một giải pháp quan trọng nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời đáp ứng mục tiêu chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải.
Theo đại diện Bộ Công Thương, việc xây dựng lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống được quy định tại Thông tư số 50/2025/TT-BCT dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản: Tính khả thi, triển khai từng bước và phù hợp với thực tiễn thị trường.
Mục tiêu lớn nhất của lộ trình là tăng tỉ lệ sử dụng nhiên liệu sinh học, từng bước giảm phụ thuộc vào xăng khoáng, đồng thời tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước và thúc đẩy sử dụng nhiên liệu xanh. Đây cũng là một trong những giải pháp góp phần thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Trong đó, yếu tố khả thi được xem xét trên nhiều khía cạnh, bao gồm nhu cầu sản xuất và cung ứng ethanol trong nước, năng lực pha chế và phối trộn của các doanh nghiệp đầu mối, cũng như hệ thống hạ tầng lưu trữ, vận chuyển và phân phối xăng dầu hiện có. Việc triển khai theo lộ trình từng bước nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị về cơ sở vật chất, nguồn cung nguyên liệu và tổ chức sản xuất kinh doanh.
Theo quy định, Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/5/2026, trong khi việc chuyển sang sử dụng xăng sinh học E10 trên phạm vi cả nước dự kiến bắt đầu từ ngày 1/6/2026. Khoảng thời gian chuyển tiếp này nhằm giúp doanh nghiệp hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và chuẩn bị nguồn cung cho quá trình phối trộn.
Doanh nghiệp chuẩn bị hạ tầng và nguồn cung
Từ phía doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nhiều đơn vị đã chủ động triển khai các bước chuẩn bị để thực hiện lộ trình mới.
Đại diện Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết doanh nghiệp đã tiến hành thí điểm kinh doanh xăng E5 và E10 tại TPHCM từ tháng 8/2025. Sau khi Thông tư 50 được ban hành, doanh nghiệp tiếp tục triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và chuẩn bị cho việc chuyển đổi trong toàn hệ thống.
Hiện nay, doanh nghiệp đã có 7 điểm kho pha chế sẵn sàng thực hiện pha chế xăng E10 trên phạm vi cả nước. Cùng với đó, mạng lưới hơn 2.800 cửa hàng xăng dầu cũng đã được chuẩn bị về hạ tầng, bao gồm việc xúc rửa bể chứa và hoàn thiện các điều kiện kỹ thuật cần thiết.
Song song với đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp cũng cử các đoàn công tác đi khảo sát và học tập kinh nghiệm tại một số quốc gia đã triển khai xăng sinh học như Thái Lan, Philippines và Hoa Kỳ nhằm nghiên cứu mô hình tổ chức kinh doanh, vận tải và bảo đảm chất lượng nhiên liệu.
Nhu cầu ethanol và khả năng cung ứng
Theo tính toán của Bộ Công Thương, tổng lượng xăng tiêu thụ tại Việt Nam năm 2025 khoảng 11,37 triệu m³. Khi chuyển sang sử dụng xăng sinh học E10, nhu cầu ethanol phục vụ pha chế ước tính khoảng 1,1 triệu m³ mỗi năm.
Tuy nhiên, năng lực sản xuất trong nước hiện mới đáp ứng một phần nhu cầu. Việt Nam hiện có 6 nhà máy sản xuất ethanol nhưng mới khoảng một nửa số nhà máy đang hoạt động và cũng chưa vận hành hết công suất. Nếu tất cả các nhà máy cùng hoạt động tối đa theo công suất thiết kế, tổng sản lượng có thể đạt khoảng 400.000 - 500.000 m³, tương đương khoảng 40% nhu cầu.
Như vậy, trong giai đoạn đầu triển khai lộ trình, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu khoảng 60% ethanol từ thị trường quốc tế. Các nguồn cung lớn hiện nay chủ yếu đến từ Hoa Kỳ và Brazil, những quốc gia có sản lượng ethanol dư thừa lớn trên thị trường thế giới.
Đại diện doanh nghiệp cho biết nhu cầu ethanol phục vụ pha chế xăng E10 của toàn hệ thống doanh nghiệp hiện khoảng 45.000 - 50.000 m³ mỗi tháng. Trong khi đó, nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 20.000 m³ mỗi tháng, phần còn lại phải được bổ sung từ nguồn nhập khẩu.
Để bảo đảm nguồn cung ổn định, doanh nghiệp đã chủ động đàm phán với các đối tác từ Hoa Kỳ, Singapore và Hàn Quốc để ký kết cả hợp đồng dài hạn và ngắn hạn.
Cùng với việc nhập khẩu ethanol, việc xây dựng nguồn nguyên liệu trong nước được xem là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính bền vững của chương trình nhiên liệu sinh học.
Theo các chuyên gia, chương trình nhiên liệu sinh học không chỉ nhằm mục tiêu giảm phát thải và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, mà còn tạo đầu ra ổn định cho nông sản như ngô và sắn. Khi thị trường ethanol được khơi thông, nhu cầu nguyên liệu đầu vào sẽ tăng lên, từ đó hình thành chuỗi cung ứng ổn định giữa nhà máy và vùng trồng.
Đại diện doanh nghiệp sản xuất ethanol cho biết, hiện nay nguyên liệu sản xuất chủ yếu là sắn và ngô. Sắn được thu mua hoàn toàn trong nước thông qua các thương nhân và doanh nghiệp nông sản, trong khi ngô được cung ứng từ cả nguồn trong nước và nhập khẩu từ các nước Nam Mỹ hoặc Hoa Kỳ.
Do đặc điểm mùa vụ của sắn, doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược linh hoạt giữa hai loại nguyên liệu. Khi giá sắn tăng, doanh nghiệp tăng tỉ lệ sử dụng ngô và ngược lại. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng thực hiện dự trữ nguyên liệu để hạn chế rủi ro thiếu hụt khi thị trường biến động.
Các giải pháp triển khai xăng sinh học
Để triển khai lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học một cách ổn định và hiệu quả, Bộ Công Thương định hướng thực hiện đồng bộ các giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Về ngắn hạn, do khả năng cung ứng trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Việt Nam vẫn phải duy trì cơ chế linh hoạt trong việc bổ sung nguồn ethanol cũng như nguyên liệu sản xuất ethanol từ nhập khẩu. Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu cơ chế thuế, phí, ưu đãi phù hợp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu ethanol và nguyên liệu phục vụ pha chế phối trộn.
Về trung hạn, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để nghiên cứu chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu quả và năng suất sản xuất ethanol. Hiện năng suất vùng nguyên liệu trong nước chưa đạt như kỳ vọng nên việc ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất là rất quan trọng.
Về dài hạn, cần quy hoạch và mở rộng các vùng nguyên liệu trong nước, nhất là đối với cây ngô, cây sắn. Đồng thời, phải xây dựng chuỗi liên kết bền vững giữa vùng nguyên liệu và cơ sở sản xuất để tạo nguồn cung ổn định cho các nhà máy. Đây là điều kiện then chốt để thị trường vận hành bền vững.
Anh Thơ
4 giờ trước
8 giờ trước
12 giờ trước
12 giờ trước
13 giờ trước
17 giờ trước
20 giờ trước
20 giờ trước
20 giờ trước
20 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước