Chọn trúng trọng tâm, tập trung nguồn lực để đầu tư công, tạo đột phá phát triển
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; kế hoạch vay, trả nợ công và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội điều hành phiện thảo luận tại hội trường
Trong bối cảnh nền kinh tế đứng trước yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, nhiều đại biểu cho rằng đầu tư công phải thực sự đóng vai trò “dẫn dắt”, tạo nền tảng phát triển và khơi thông các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn đúng trọng tâm đầu tư và nâng cao chất lượng quản trị được xác định là yếu tố mang tính quyết định.
Ưu tiên trúng “điểm nghẽn” để tạo hiệu quả lan tỏa
Tham gia thảo luận, ĐBQH Huỳnh Ngọc Liêm, Phó Giám đốc Công an tỉnh, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh: Việc lựa chọn trọng tâm đầu tư là yêu cầu then chốt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước. Đại biểu thẳng thắn chỉ ra: “Thực tiễn thời gian qua cho thấy một hạn chế khá rõ là đầu tư công ở một số nơi vẫn còn tình trạng phân tán, dàn trải, thiếu liên kết vùng, chưa tập trung đúng mức vào các điểm nghẽn chiến lược”.

ĐBQH Huỳnh Ngọc Liêm, Phó Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng tham gia thảo luận tại hội trường. Ảnh: Kiều Trinh
Theo đại biểu, trong điều kiện nguồn lực có hạn, nếu không chọn đúng trọng tâm thì “rất dễ rơi vào tình trạng đầu tư nhiều nhưng hiệu quả lan tỏa không tương xứng, công trình có nhưng động lực phát triển tạo ra chưa rõ nét”. Từ đó, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm đề nghị kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 cần ưu tiên 3 trụ cột lớn. Đó là, về hạ tầng an ninh nguồn nước, đại biểu cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận, xem hệ thống thủy lợi, hồ chứa, kênh mương không chỉ là hạ tầng phục vụ sản xuất mà còn là hạ tầng bảo đảm dân sinh và ổn định xã hội. “Có nước thì mới giữ được sản xuất; có sản xuất ổn định thì mới giữ được dân cư, sinh kế và trật tự xã hội ở cơ sở”, đại biểu nhấn mạnh. Theo đó, cần ưu tiên nâng cấp các công trình thủy lợi xuống cấp, hoàn thiện hệ thống dẫn nước đến tận vùng sản xuất, nhất là những khu vực thường xuyên thiếu nước.
Mặt khác, về hạ tầng liên kết vùng, đại biểu cho rằng hiệu quả liên kết còn hạn chế, nguyên nhân quan trọng là thiếu hạ tầng kết nối đủ mạnh. “Không có kết nối thì không hình thành được chuỗi giá trị liên vùng; không có kết nối đồng bộ thì mỗi địa phương vẫn phát triển theo hướng riêng lẻ”, đại biểu phân tích. Từ đó, đại biểu đề xuất ưu tiên các hành lang giao thông chiến lược, đặc biệt là trục Đông - Tây kết nối Tây Nguyên với Duyên hải miền Trung, gắn kết vùng nguyên liệu với trung tâm chế biến, logistics và cửa ngõ xuất khẩu.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận tại hội trường
Cùng với đó, vấn đề về cảng biển và logistics, đại biểu nhấn mạnh đây là điểm nghẽn lớn khi chi phí logistics còn cao, kết nối chưa đồng bộ. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy đầu tư dàn trải sang phát triển tập trung các cụm cảng chiến lược có khả năng cạnh tranh quốc tế. Đáng chú ý, đại biểu kiến nghị quan tâm đầu tư Cảng biển Phú Quý trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phát triển theo mô hình lưỡng dụng gắn kinh tế biển với quốc phòng - an ninh.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quản trị đầu tư công, trong đó cần “làm rõ ai quyết định, ai chủ trì, ai chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu ra”, đồng thời tăng cường giám sát dựa trên dữ liệu minh bạch, lượng hóa được. Đối với các dự án liên vùng, đại biểu kiến nghị cần có cơ chế điều phối đủ mạnh, đủ thẩm quyền để khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm”, tránh lãng phí nguồn lực.
Đại biểu cũng lưu ý phải đánh giá đầy đủ các rủi ro như: phân tán nguồn lực, xung đột lợi ích, tác động môi trường, nguy cơ đội vốn, chậm tiến độ… Việc thẩm định và quyết định đầu tư cần được xem xét toàn diện trên cả phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững.
“Nếu lựa chọn đúng trọng tâm và tổ chức thực hiện tốt, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 sẽ không chỉ thúc đẩy tăng trưởng trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho ổn định xã hội, tăng cường liên kết vùng và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong dài hạn”, đại biểu nhấn mạnh
Đầu tư cho khoa học - công nghệ phải có ràng buộc cụ thể

Đại biểu Nguyễn Văn Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) tham gia thảo luận tại hội trường. Ảnh: Kiều Trinh
Góp ý ở góc độ chiến lược dài hạn, đại biểu Nguyễn Văn Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, tập trung vào nội dung đầu tư công cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đại biểu khẳng định đây phải là “động lực trung tâm của tăng trưởng quốc gia trong giai đoạn tới”, song thực tế mức đầu tư hiện nay còn rất hạn chế. Dẫn số liệu của Chính phủ, đại biểu cho biết giai đoạn 2021 - 2025, vốn đầu tư công cho khoa học và công nghệ chỉ chiếm khoảng 1,8% tổng vốn - “một tỷ lệ quá thấp so với yêu cầu phát triển”.
Từ đó, đại biểu nhấn mạnh: “Không có con số ràng buộc pháp lý thì không có ưu tiên thực sự”. Đại biểu kiến nghị bổ sung quy định trong nghị quyết, theo đó, tỷ trọng đầu tư cho khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo không thấp hơn 3% tổng vốn đầu tư công trung hạn.

Các ĐBQH tham dự phiên thảo luận
Không chỉ dừng ở tỷ lệ, đại biểu còn bày tỏ băn khoăn về cơ cấu phân bổ vốn khi mới chỉ phân bổ chi tiết khoảng 19% tổng vốn ngân sách Trung ương, trong khi hơn 70% chưa có kế hoạch cụ thể. “Phần vốn 71% này sẽ quyết định Việt Nam có thực sự ưu tiên khoa học - công nghệ hay không”, đại biểu nêu rõ, đồng thời đề nghị cần có định hướng ràng buộc ngay từ nghị quyết.
Đại biểu Nguyễn Văn Ngọc đề xuất ưu tiên bố trí nguồn lực cho các chương trình khoa học - công nghệ chiến lược như: công nghệ bán dẫn, điện hạt nhân, trung tâm dữ liệu quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đồng thời áp dụng cơ chế đầu tư đặc thù, linh hoạt đối với các dự án này.
Ở góc độ hiệu quả đầu tư, đại biểu cho rằng vấn đề hiện nay không chỉ là thiếu vốn mà là chất lượng đầu tư và năng lực hấp thụ còn hạn chế. Dẫn chứng cho thấy, giai đoạn 2021 - 2025, mỗi đồng tăng trưởng cần tới 6,4 đồng vốn đầu tư, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn ODA chỉ đạt 52,7%.
Theo đại biểu, kinh nghiệm quốc tế cho thấy đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nhân lực khoa học - công nghệ có hệ số nhân kinh tế cao hơn nhiều so với đầu tư hạ tầng truyền thống.
“Trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ, thay vì tích lũy theo cấp số cộng, chúng ta có thể bứt phá theo cấp số nhân”, đại biểu phân tích.

Quang cảnh phiên thảo luận chiều 21/4
Từ đó, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng.
Đại biểu kiến nghị bổ sung chỉ tiêu giám sát bắt buộc: “Tỷ trọng vốn đầu tư công trực tiếp tạo ra tài sản trí tuệ, sản phẩm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đạt tối thiểu 5% tổng vốn kế hoạch đến năm 2030”.
Với các ý kiến sâu sắc, thẳng thắn và có tính gợi mở chính sách, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đã góp phần làm rõ yêu cầu cấp thiết trong việc tái cấu trúc đầu tư công theo hướng tập trung, hiệu quả và bền vững hơn.
Thanh Nhàn
6 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 giờ trước
47 phút trước
49 phút trước
6 phút trước
Vừa xong
6 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
20 phút trước
26 phút trước
30 phút trước