🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Chiến lược về đổi mới giáo dục đại học, thúc đẩy đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp

1 giờ trước
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc chuẩn bị cho năm học 2026-2027 và thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục nhấn mạnh điều gì về chiến lược về đổi mới giáo dục đại học, thúc đẩy đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp?

Trong Kết luận về việc chuẩn bị cho năm học 2026-2027 và thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục, giáo dục đại học được nhắc đến như một lĩnh vực cần được đổi mới mạnh mẽ để tạo ra bước đột phá trong đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Hiện nay, giáo dục đại học vẫn chưa tạo được sự đột phá rõ nét trong việc phát triển nhân lực. Đây là một trong những hạn chế cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 71-NQ/TW.

Với vai trò chiến lược, giáo dục đại học được định hướng phải đi trước một bước trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các ngành chiến lược của đất nước.

Môi trường đại học phải dẫn đầu trong nghiên cứu khoa học và phát triển các công nghệ mang tính chiến lược.

Về giải pháp trọng tâm, các nhiệm vụ của giáo dục đại học được nêu rõ trong năm học mới, theo định hướng của Đảng và Nhà nước:

- Xây dựng đại học tinh hoa: Tập trung đổi mới để xây dựng các đại học tinh hoa và trung tâm đào tạo xuất sắc.

- Thực hiện tự chủ đại học toàn diện: Tự chủ không chỉ về tài chính, học phí mà còn phải bao gồm tự chủ về học thuật, tổ chức, nhân sự, hợp tác và nghiên cứu.

Tuy nhiên, quyền tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và công bằng trong cơ hội học tập.

- Đầu tư có trọng điểm: Lựa chọn một số cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm để đầu tư dựa trên sự cạnh tranh về kết quả và hiệu quả. Nhà nước sẽ ưu tiên ngân sách cho các đại học trọng điểm.

- Gắn kết với thực tiễn: Đại học phải gắn chặt với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhu cầu của từng địa phương.

Cơ chế tài chính và đào tạo:

- Nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực xã hội, mở rộng hợp tác công - tư.

- Thực hiện việc đặt hàng đào tạo theo nhiệm vụ quốc gia và sản phẩm đầu ra.

- Có chính sách đặc thù để thu hút chuyên gia giỏi, nhà khoa học đầu ngành tham gia giảng dạy và nghiên cứu.

- Cân bằng giữa các lĩnh vực: Ngoài công nghệ, cần đầu tư thích đáng cho khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn để đảm bảo sự phát triển con người và giá trị văn hóa song hành với công nghệ.

Quan điểm giáo dục đại học theo nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp cũng đồng thời cũng tránh được tỷ lệ các sinh viên ra trường không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng và không có việc làm.

Yêu cầu cụ thể đối với giáo dục đại học thời kỳ mới cho thấy giáo dục đào tạo ngày càng được nhận diện gắn liền với phát triển toàn diện các lĩnh vực. Đặc biệt là vai trò trong xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho giai đoạn mới. Công nghệ dù phát triển đến đâu, cũng không thể vượt lên trách nhiệm xã hội, tính cộng đồng và nhu cầu của thời đại. Yếu tố con người, chất lượng nguồn nhân lực luôn là quyết định đối với mỗi quốc gia.

Con người có thể sáng tạo ra công nghệ, nhưng không được lạc hậu so với công nghệ, cũng không được để công nghệ dẫn dắt một cách mất kiểm soát. Việc đào tạo con người mới vừa dôi dư sáng tạo và khuôn phép về kỷ luật lao động và trách nhiệm xã hội là nhiệm vụ nặng nề của giáo dục đại học - nơi luôn được coi là đào tạo nhân lực chất lượng cao - trụ cột của sự phát triển.

Giáo dục đại học được yêu cầu đứng ở vị trí dẫn đầu, phải đi trước một bước trong việc đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển các công nghệ mang tính chiến lược.

Trong thời kỳ phát triển đột phá, phải xây dựng mô hình tinh hoa. Tập trung đổi mới để xây dựng các đại học tinh hoa và các trung tâm đào tạo xuất sắc. Bên cạnh đó là các vệ tinh đào tạo chuyên ngành, tạo nên môi trường đào tạo thực chất, hiệu quả.

Tự chủ đại học toàn diện cũng đặt ra yêu cầu thực hiện tự chủ đại học một cách thực chất, bao gồm: tự chủ về tài chính, học phí, học thuật, tổ chức, nhân sự, hợp tác và nghiên cứu.

Quyền tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm và minh bạch giải trình, thực hiện kiểm định chất lượng nghiêm ngặt, công khai kết quả và đảm bảo công bằng trong cơ hội học tập.

Nhà nước sẽ lựa chọn các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu hoặc phòng thí nghiệm trọng điểm để đầu tư trọng điểm dựa trên sự cạnh tranh về hiệu quả và kết quả đầu ra.

Một điều đáng chú ý là các trường đại học phải gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu phát triển của từng địa phương. Nếu trường đại học nào có mối liên kết đào tạo hiệu quả với các doanh nghiệp sử dụng nhân lực chất lượng cao, bên cạnh đó có đầu tư và đóng góp cho chất lượng đào tạo được xem là điểm cộng trong hệ thống giáo dục.

Cơ chế tài chính mới sẽ khuyến khích hợp tác công - tư, huy động nguồn lực xã hội và thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo theo nhiệm vụ quốc gia hoặc sản phẩm đầu ra cụ thể.

Mặc dù vậy, giáo dục đại học buộc phải cân bằng giữa công nghệ và con người. Ngoài việc phát triển công nghệ chiến lược (như AI, chuyển đổi số), yêu cầu phải đầu tư thích đáng cho khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn để đảm bảo sự phát triển hài hòa về văn hóa, thể chế và con người.

Vai trò của nhà nước trong việc đặt hàng đào tạo

Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết và định hướng đào tạo thông qua cơ chế đặt hàng, cụ thể như sau:

- Đối với giáo dục nghề nghiệp: Nhà nước thực hiện đặt hàng đào tạo theo nhu cầu phát triển của đất nước. Việc đặt hàng này nhằm đảm bảo công tác đào tạo nghề bám sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, các khu công nghiệp, vùng kinh tế và các ngành nghề mới nổi. Đồng thời, các hỗ trợ của Nhà nước sẽ gắn liền với chất lượng đầu ra, việc làm và khả năng đáp ứng thị trường lao động của người học.

- Đối với giáo dục đại học: Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo theo nhiệm vụ quốc gia và sản phẩm đầu ra. Cơ chế này chú trọng vào hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy việc liên kết nghiên cứu và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm trong các cơ sở công lập.

- Mục tiêu chung: Vai trò đặt hàng của Nhà nước nhằm thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học và nghề nghiệp gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và nhu cầu cụ thể của từng địa phương. Điều này giúp giáo dục và đào tạo đi trước một bước trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành chiến lược của đất nước như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo.

Doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề như thế nào?

Đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục thời đại, doanh nghiệp được xác định là một thành tố không thể thiếu để tạo ra chuyển biến thực chất trong giáo dục nghề nghiệp, giúp học nghề trở thành con đường thiết thực để có việc làm và thu nhập.

Doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề thông qua các hoạt động sau:

- Doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào khâu thiết kế, xây dựng nội dung chương trình đào tạo để đảm bảo kiến thức và kỹ năng phù hợp với thực tế sản xuất.

- Phối hợp với các cơ sở giáo dục để tổ chức cho người học thực hành, tiếp cận môi trường làm việc thực tế tại chính doanh nghiệp.

- Tham gia vào quá trình đánh giá năng lực, kỹ năng nghề nghiệp của người học dựa trên các chuẩn mực thực tế của thị trường lao động.

- Doanh nghiệp đóng vai trò là đầu ra cho quá trình đào tạo, trực tiếp tuyển dụng nhân lực sau khi tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, định hướng mới yêu cầu việc đào tạo nghề phải gắn chặt với nhu cầu của doanh nghiệp, các khu công nghiệp, vùng kinh tế và những ngành nghề mới nổi.

Các doanh nghiệp cũng được khuyến khích cùng tham gia vào quá trình phát triển nhân lực, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Việc gắn kết chặt chẽ này giúp giáo dục nghề nghiệp đạt được giá trị thật, liên thông thật và tạo ra việc làm thật cho người học.

Hà Phong

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ