Châu Âu giữa hai bờ thực tại
Để thấu hiểu bản chất của cơn địa chấn này, không thể không lật lại những trang phân tích đầy kỳ vọng của hơn một thập niên trước. Cuốn sách Iran-Etats-Unis : Les amis de demain” (tạm dịch: Iran – Mỹ: Những người bạn của tương lai) của tác giả Ardavan Amir-Aslani xuất bản năm 2013 từng được xem là một bản tuyên ngôn cho sự lạc quan.
Thuở ấy, dưới bóng mát của ngoại giao thời Tổng thống Mỹ Barack Obama, châu Âu đã dấn thân vào một canh bạc đầy duy mỹ: biến ngoại giao hạt nhân thành một “phòng thí nghiệm” để chứng minh rằng sự phụ thuộc lẫn nhau có thể thuần hóa được những thù nghịch bản sắc của cuộc Cách mạng 1979.

Đại Giáo chủ Ayatollah Khomeini giữa đám đông trong cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 tại Tehran. Ảnh: Getty Images
Đó không chỉ là năm nổ ra cuộc Cách mạng Hồi giáo lật đổ chế độ quân chủ thân Mỹ để thiết lập một nhà nước thần quyền, mà còn là cột mốc khởi đầu cho cuộc khủng hoảng con tin chấn động tại Tehran và cú sốc dầu mỏ làm đảo lộn kinh tế toàn cầu. Kể từ thời điểm đó, Iran và Mỹ đã rơi vào một kỷ nguyên ghẻ lạnh kéo dài gần nửa thế kỷ, biến mọi nỗ lực xích lại gần nhau trở thành những bài toán địa chính trị nan giải nhất hành tinh.
Thế nhưng, thực tại nghiệt ngã của năm 2026 đã giáng một đòn chí mạng vào giả định ấy. Sự tan vỡ không chỉ đến từ con số 900 cuộc không kích hay báo cáo về cái chết của Lãnh đạo tối cao Ali Khamenei, một sự đứt gãy lớn nhất trong nửa thế kỷ qua, mà còn nằm ở nhịp độ gia tốc đến kinh hoàng của cuộc chiến.
Khi thời gian giữa huy động và tấn công tổng lực bị nén lại chỉ còn chín ngày, mọi cửa sổ hòa giải mà Brussels dày công gây dựng đều bị đóng sập. Những gì từng được tin là sự răn đe có tính toán đã nhanh chóng biến thành một chiến dịch “chặt đầu chiến lược” đầy quyết liệt, để lại một châu Âu bàng hoàng trước sự sụp đổ của những giàn giáo ngoại giao mà họ hằng tin cậy.

Khói bốc lên từ một vụ nổ ở Tehran ngày 2/3. Ảnh: Reuters
Bi kịch của lục địa già hiện lên rõ nét qua hình ảnh một “người khổng lồ bị phơi nhiễm”. Trong nỗ lực thoát khỏi sự lệ thuộc vào khí đốt Nga, Brussels vô tình rơi vào một cái bẫy địa lý mới: sự phụ thuộc vào an ninh hàng hải tại Eo biển Hormuz. Khi giá gas TTF vọt tăng 50% chỉ trong vài ngày dưới sức ép của những bầy UAV tự sát nhắm vào các trung tâm năng lượng vùng Vịnh, khái niệm “tự chủ chiến lược” bỗng chốc trở nên trần trụi. Đa dạng hóa nguồn cung, hóa ra, chỉ là sự chuyển dịch của nỗi lo âu chứ không phải sự giải phóng về cấu trúc.
Ngay cả sự an toàn của lãnh thổ Châu Âu cũng không còn là điều hiển nhiên khi cuộc tấn công bằng thiết bị bay không người lái (UAV) tự sát vào căn cứ Akrotiri tại Cyprus đã xóa bỏ biên giới của sự miễn nhiễm. Phản ứng vội vã của Pháp khi triển khai tàu khu trục bảo vệ Nicosia hay sự chia rẽ giữa các quốc gia trong Liên minh châu Âu (EU) đã phơi bày một chủ quyền bị phân mảnh.
Trong khi Italy hay Phần Lan nhìn thấy cơ hội loại bỏ mối đe dọa hạt nhân, thì Tây Ban Nha và Slovakia lại lên án sự xói mòn của luật pháp quốc tế. Châu Âu vừa phải ủng hộ đồng minh, vừa phải run rẩy trước những sóng kích về di cư và lạm phát ngay tại ngưỡng cửa nhà mình. Sự phân rã này còn lan sâu vào nội bộ bộ máy Brussels, nơi những tiếng nói thống nhất của các nhà lãnh đạo vẫn không khỏa lấp được sự lệch pha về lợi ích giữa các quốc gia thành viên.

Vị thế địa chính trị của Iran và “yết hầu” năng lượng Hormuz. Ảnh: Reuters
Cuối cùng, cuộc khủng hoảng Iran đặt châu Âu trước một câu hỏi bản thể luận nghiệt ngã: Họ thực sự là một chủ thể định hình kết quả, hay chỉ là đối tượng hấp thụ hậu quả? Khi quyền quyết định về ngưỡng leo thang nằm trong tay Washington, Tehran và Jerusalem, tiếng nói kêu gọi hạ nhiệt của Brussels chỉ còn là những âm hưởng lạc lõng. Bi kịch của châu Âu là họ kêu gọi hòa bình không phải vì nắm giữ chìa khóa của nó, mà vì họ là bên có quá nhiều thứ để mất nhưng lại quá ít công cụ để bảo vệ.
Khổng Hà
1 giờ trước
4 giờ trước
29 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
5 phút trước
9 phút trước
18 phút trước
34 phút trước