Chắt chiu mật ngọt dâng đời

Buổi chiều, nắng tháng Tư đổ xuống những nương ngô xanh mướt ven sườn đồi bản Tràng Bắn, xã Đồng Kỳ. Con đường đất giữa rừng keo càng trở nên hun hút. Trong không khí oi ả, ông Nguyễn Văn Tiến, người dân thôn Gia Tiến, xã Nhã Nam vẫn tất tả bước.
Điểm đến của ông là khu rừng keo của một hộ dân trong bản, nơi ông gửi gần 200 thùng ong - “cơ nghiệp” mà ông đã dày công gây dựng suốt nhiều năm. Dưới tán keo xanh rì, những thùng ong xếp ngay ngắn thành hàng. Không gian tưởng chừng tĩnh lặng bỗng rung lên bởi tiếng ong vo ve - thứ âm thanh như nhịp thở của núi rừng.
Ông Tiến cúi xuống mở một thùng ong. Động tác của ông chậm rãi, cẩn trọng. Một cầu ong được nhấc lên, màu mật vàng óng ánh trong nắng, kết tinh từ hàng trăm loài hoa rừng.
“Bình thường tôi hay đặt ong dưới tán vải, tán nhãn, ong bay dễ hơn. Ở rừng keo thế này, đường bay bị cản, tôi cũng lo mật kém. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra thấy vẫn ổn”, giọng ông nhẹ nhàng.

Những thùng ong của ông Nguyễn Văn Tiến được đặt dưới tán rừng keo hoặc tán cây vải thiều.
Sau động tác nhấc cầu, đàn ong thợ đã bay ra, lượn vòng quanh như những vệ sĩ nhỏ bé. Chúng tôi vội lùi lại theo phản xạ nhưng ông Tiến vẫn đứng đó, bình thản. “Những đàn ong đã quen mình rồi. Chỉ khi mình làm mạnh tay, ồn ào khiến chúng sợ thì mới bị đốt thôi”, ông Tiến cười hiền.
Ở tuổi 60, ông Tiến vẫn miệt mài với ong nội - giống ong được thuần hóa từ ong rừng. Với ông, mỗi đàn ong không chỉ là tài sản mà còn là kết tinh của kinh nghiệm, tình yêu nghề. Việc đưa ong vào rừng keo, gửi nhờ trong đất của người dân bản Tràng Bắn là một lựa chọn phù hợp ở thời điểm này. Tại đây có nguồn hoa dại phong phú, đa dạng, đủ nuôi sống đàn ong trong những tháng mùa hè - khi những vườn vải, vườn nhãn đã qua kỳ nở rộ.

Ông Tiến gắn bó với nghề nuôi ong từ năm 1987. Khi ấy, người lính trẻ vừa rời quân ngũ trở về quê, mang theo ý chí và khát vọng lập nghiệp. Ông vào làm tại Xí nghiệp Ong Hà Bắc - nơi đã mở ra một con đường mới.
Những ngày đầu, công việc còn lạ lẫm. Thế nhưng càng tiếp xúc, ông càng bị cuốn hút bởi thế giới kỳ diệu của loài ong, đó là cách chúng xây tổ, phân công lao động, nuôi dưỡng ấu trùng và tích trữ mật ngọt từ thiên nhiên. “Nhìn đàn ong làm việc, thấy chúng chăm chỉ, kỷ luật lắm. Mình cũng học được nhiều điều”, ông nhớ lại.

Ông Nguyễn Văn Tiến kiểm tra cầu ong của gia đình.
Sự cần cù, ham học hỏi giúp ông nhanh chóng nắm vững kỹ thuật, trở thành thợ lành nghề. Nhưng đến năm 1994, khi Xí nghiệp giải thể, nhiều người rẽ sang nghề khác còn ông Tiến vẫn chọn ở lại. “Đã gắn bó rồi, bỏ không đành”, ông nói, ánh mắt xa xăm.
Nuôi ong, theo ông, không chỉ cần sức khỏe mà còn đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc. Một cầu ong tưởng chừng đơn giản nhưng lại là cả một “cấu trúc sinh học” hoàn chỉnh. Phía dưới là nơi phát triển đàn, ở giữa là lớp phấn hoa nuôi ấu trùng, phía trên cùng là bầu mật - nơi lưu giữ thành quả lao động của hàng nghìn con ong. Người thợ khi khai thác phải thật khéo léo, chỉ cắt phần mật phía trên. Một vết cắt sai có thể phá hỏng cả tổ, ảnh hưởng đến sự tồn tại của đàn ong.
Ong có thể cho mật quanh năm nhưng nhiều nhất vẫn là mùa hoa vải, hoa nhãn, thời điểm những khu vườn đồi trong tỉnh ngào ngạt hương thơm. Khi ấy chỉ 5 - 6 ngày quay mật một lần. Còn mùa hoa rừng - từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 5 âm lịch - thời gian thu mật dài hơn, chất lượng mật đặc biệt hơn. Đó là thứ mật được chắt lọc từ vô vàn loài hoa dại như xuyến chi trắng, hoa trám, hoa sấu, hoa keo, hoa lim. Tất cả hòa quyện, tạo nên hương vị đậm đà, thanh khiết mà không loại mật nào có thể sánh được.

Mỗi cầu ong chia làm 3 phần, phía dưới là nơi phát triển đàn, ở giữa là lớp phấn hoa nuôi ấu trùng, phía trên cùng là bầu mật.
Để có những giọt mật ấy, ông Tiến luôn bận bịu chăm sóc đàn ong. Ông thường xuyên kiểm tra, thay ong chúa, bảo đảm đàn ong luôn khỏe mạnh, đồng thời chọn vị trí đặt ong sao cho gần nguồn hoa, đủ mật nuôi đàn.
Ông Tiến nhẩm tính, so với trước đây, năng suất nuôi ong đã tăng lên rõ rệt. Một mình ông có thể quản lý đến 200 đàn ong - điều mà trước kia phải cần đến cả một nhóm người. Mỗi năm, trung bình mỗi đàn cho 9-10 lít mật. Với giá khoảng 200 nghìn đồng/lít, thu về gần 400 triệu đồng, đủ để ông và gia đình có cuộc sống ổn định.

Khi ông Tiến vừa kiểm tra xong đàn ong, ông Hoàng Mạnh Hùng, người dân bản Đồng Đảng, xã Đồng Kỳ ghé thăm. Hai người bạn già gặp nhau giữa rừng, câu chuyện xoay quanh đàn ong, thời tiết, những đổi thay của nghề. Ông Hùng nói: “Dự báo hai hôm nữa có mưa đấy. Phải tính quay mật sớm hoặc lùi lại, không thì mật sẽ nhạt”. Với người nuôi ong, thời tiết không chỉ là yếu tố tự nhiên mà còn là “lịch làm việc” quyết định đến hiệu quả cả vụ.
Ông Hùng cũng bén duyên với nghề từ những ngày Xí nghiệp Ong Hà Bắc mang ong về gửi tại vườn nhà. Kết hợp với kinh nghiệm do cha truyền lại, ông dần trở thành người nuôi ong giỏi. Hiện ông có 110 đàn ong nội, ngoài lấy mật còn gây giống bán ra thị trường. “Từ đầu năm đến giờ, tôi bán được khoảng 70 đàn ong giống”, ông chia sẻ, ánh mắt ánh lên niềm vui.

Ông Nguyễn Văn Tiến và ông Hoàng Mạnh Hùng kiểm tra cầu ong đặt ấu trùng ong chúa để gây đàn mới.
Gây đàn mới là cả một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn. Người nuôi phải biết phát hiện ấu trùng ong chúa, nuôi dưỡng cẩn thận, rồi tách đàn đúng thời điểm. Khi đưa ong chúa sang tổ mới phải “hòa hơi” để ong thợ chấp nhận. “Nếu không làm đúng cách, ong thợ sẽ nhận ra và cắn chết ong chúa mới ngay”, ông Hùng nói.
Nghề nuôi ong cũng là nghề của những chuyến đi. Để có mật, người nuôi phải liên tục di chuyển đàn ong theo mùa hoa. Một năm, ông Tiến di chuyển 6 - 7 lần, khi thì theo mùa hoa vải, hoa nhãn trong tỉnh, lên Thái Nguyên lấy mật hoa bồ đề, lúc lại ngược về Lạng Sơn "đón" hoa tần bì, hoa ngô.
Nhưng hành trình ấy ngày càng trở nên khó khăn. Theo ông Hùng, ông Tiến, nuôi ong bây giờ vất vả hơn trước nhiều. Nguyên nhân không phải do thiếu hoa mà bởi những rủi ro từ chính con người. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật khiến những cánh đồng, vườn cây trở thành “bẫy chết” đối với ong. “Chỉ cần ong hút phải mật ở vườn vừa phun thuốc là có thể chết hàng loạt”, ông Tiến nói.

Người thợ nuôi ong thu hoạch mật.
Những con số được nhắc đến khiến người nghe không khỏi xót xa. Từ đầu năm đến nay, ông Hùng đã ba lần mất đàn, tổng cộng 80 cầu ong. Còn ông Tiến cũng hai lần thiệt hại tới 100 cầu ong do ong “dính” phải vườn hoa vừa phun thuốc bảo vệ thực vật. Đó không chỉ là thiệt hại về kinh tế mà còn là nỗi đau của những người gắn bó cả đời với đàn ong.
Chiều xuống dần trên rừng keo. Ánh nắng dịu lại, trải dài trên những thùng ong xếp hàng ngay ngắn. Đàn ong vẫn miệt mài bay đi, mang về từng giọt mật như chưa từng biết đến những hiểm nguy đang rình rập. Ông Tiến đứng lặng, ánh mắt dõi theo những cánh ong nhỏ bé. “Chỉ mong môi trường sạch hơn, ít thuốc bảo vệ thực vật hơn… để ong còn sống, còn làm mật”, ông nói khẽ.
Tiếng ong bay vẫn vang lên đều đặn như nhịp điệu bền bỉ của sự sống. Ở đó, những người thợ nuôi ong vẫn lặng lẽ chắt chiu từng giọt mật không chỉ để mưu sinh mà còn để dâng cho đời một thứ hương vị kết tinh từ thiên nhiên và lòng người.


Buổi chiều, nắng tháng Tư đổ xuống những nương ngô xanh mướt ven sườn đồi bản Tràng Bắn, xã Đồng Kỳ. Con đường đất giữa rừng keo càng trở nên hun hút. Trong không khí oi ả, ông Nguyễn Văn Tiến, người dân thôn Gia Tiến, xã Nhã Nam vẫn tất tả bước.
Điểm đến của ông là khu rừng keo của một hộ dân trong bản, nơi ông gửi gần 200 thùng ong - “cơ nghiệp” mà ông đã dày công gây dựng suốt nhiều năm. Dưới tán keo xanh rì, những thùng ong xếp ngay ngắn thành hàng. Không gian tưởng chừng tĩnh lặng bỗng rung lên bởi tiếng ong vo ve - thứ âm thanh như nhịp thở của núi rừng.
Ông Tiến cúi xuống mở một thùng ong. Động tác của ông chậm rãi, cẩn trọng. Một cầu ong được nhấc lên, màu mật vàng óng ánh trong nắng, kết tinh từ hàng trăm loài hoa rừng.
“Bình thường tôi hay đặt ong dưới tán vải, tán nhãn, ong bay dễ hơn. Ở rừng keo thế này, đường bay bị cản, tôi cũng lo mật kém. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra thấy vẫn ổn”, giọng ông nhẹ nhàng.

Những thùng ong của ông Nguyễn Văn Tiến được đặt dưới tán rừng keo hoặc tán cây vải thiều.
Sau động tác nhấc cầu, đàn ong thợ đã bay ra, lượn vòng quanh như những vệ sĩ nhỏ bé. Chúng tôi vội lùi lại theo phản xạ nhưng ông Tiến vẫn đứng đó, bình thản. “Những đàn ong đã quen mình rồi. Chỉ khi mình làm mạnh tay, ồn ào khiến chúng sợ thì mới bị đốt thôi”, ông Tiến cười hiền.
Ở tuổi 60, ông Tiến vẫn miệt mài với ong nội - giống ong được thuần hóa từ ong rừng. Với ông, mỗi đàn ong không chỉ là tài sản mà còn là kết tinh của kinh nghiệm, tình yêu nghề. Việc đưa ong vào rừng keo, gửi nhờ trong đất của người dân bản Tràng Bắn là một lựa chọn phù hợp ở thời điểm này. Tại đây có nguồn hoa dại phong phú, đa dạng, đủ nuôi sống đàn ong trong những tháng mùa hè - khi những vườn vải, vườn nhãn đã qua kỳ nở rộ.

Ông Tiến gắn bó với nghề nuôi ong từ năm 1987. Khi ấy, người lính trẻ vừa rời quân ngũ trở về quê, mang theo ý chí và khát vọng lập nghiệp. Ông vào làm tại Xí nghiệp Ong Hà Bắc - nơi đã mở ra một con đường mới.
Những ngày đầu, công việc còn lạ lẫm. Thế nhưng càng tiếp xúc, ông càng bị cuốn hút bởi thế giới kỳ diệu của loài ong, đó là cách chúng xây tổ, phân công lao động, nuôi dưỡng ấu trùng và tích trữ mật ngọt từ thiên nhiên. “Nhìn đàn ong làm việc, thấy chúng chăm chỉ, kỷ luật lắm. Mình cũng học được nhiều điều”, ông nhớ lại.

Ông Nguyễn Văn Tiến kiểm tra cầu ong của gia đình.
Sự cần cù, ham học hỏi giúp ông nhanh chóng nắm vững kỹ thuật, trở thành thợ lành nghề. Nhưng đến năm 1994, khi Xí nghiệp giải thể, nhiều người rẽ sang nghề khác còn ông Tiến vẫn chọn ở lại. “Đã gắn bó rồi, bỏ không đành”, ông nói, ánh mắt xa xăm.
Nuôi ong, theo ông, không chỉ cần sức khỏe mà còn đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc. Một cầu ong tưởng chừng đơn giản nhưng lại là cả một “cấu trúc sinh học” hoàn chỉnh. Phía dưới là nơi phát triển đàn, ở giữa là lớp phấn hoa nuôi ấu trùng, phía trên cùng là bầu mật - nơi lưu giữ thành quả lao động của hàng nghìn con ong. Người thợ khi khai thác phải thật khéo léo, chỉ cắt phần mật phía trên. Một vết cắt sai có thể phá hỏng cả tổ, ảnh hưởng đến sự tồn tại của đàn ong.
Ong có thể cho mật quanh năm nhưng nhiều nhất vẫn là mùa hoa vải, hoa nhãn, thời điểm những khu vườn đồi trong tỉnh ngào ngạt hương thơm. Khi ấy chỉ 5 - 6 ngày quay mật một lần. Còn mùa hoa rừng - từ cuối tháng 2 đến đầu tháng 5 âm lịch - thời gian thu mật dài hơn, chất lượng mật đặc biệt hơn. Đó là thứ mật được chắt lọc từ vô vàn loài hoa dại như xuyến chi trắng, hoa trám, hoa sấu, hoa keo, hoa lim. Tất cả hòa quyện, tạo nên hương vị đậm đà, thanh khiết mà không loại mật nào có thể sánh được.

Mỗi cầu ong chia làm 3 phần, phía dưới là nơi phát triển đàn, ở giữa là lớp phấn hoa nuôi ấu trùng, phía trên cùng là bầu mật.
Để có những giọt mật ấy, ông Tiến luôn bận bịu chăm sóc đàn ong. Ông thường xuyên kiểm tra, thay ong chúa, bảo đảm đàn ong luôn khỏe mạnh, đồng thời chọn vị trí đặt ong sao cho gần nguồn hoa, đủ mật nuôi đàn.
Ông Tiến nhẩm tính, so với trước đây, năng suất nuôi ong đã tăng lên rõ rệt. Một mình ông có thể quản lý đến 200 đàn ong - điều mà trước kia phải cần đến cả một nhóm người. Mỗi năm, trung bình mỗi đàn cho 9-10 lít mật. Với giá khoảng 200 nghìn đồng/lít, thu về gần 400 triệu đồng, đủ để ông và gia đình có cuộc sống ổn định.

Khi ông Tiến vừa kiểm tra xong đàn ong, ông Hoàng Mạnh Hùng, người dân bản Đồng Đảng, xã Đồng Kỳ ghé thăm. Hai người bạn già gặp nhau giữa rừng, câu chuyện xoay quanh đàn ong, thời tiết, những đổi thay của nghề. Ông Hùng nói: “Dự báo hai hôm nữa có mưa đấy. Phải tính quay mật sớm hoặc lùi lại, không thì mật sẽ nhạt”. Với người nuôi ong, thời tiết không chỉ là yếu tố tự nhiên mà còn là “lịch làm việc” quyết định đến hiệu quả cả vụ.
Ông Hùng cũng bén duyên với nghề từ những ngày Xí nghiệp Ong Hà Bắc mang ong về gửi tại vườn nhà. Kết hợp với kinh nghiệm do cha truyền lại, ông dần trở thành người nuôi ong giỏi. Hiện ông có 110 đàn ong nội, ngoài lấy mật còn gây giống bán ra thị trường. “Từ đầu năm đến giờ, tôi bán được khoảng 70 đàn ong giống”, ông chia sẻ, ánh mắt ánh lên niềm vui.

Ông Nguyễn Văn Tiến và ông Hoàng Mạnh Hùng kiểm tra cầu ong đặt ấu trùng ong chúa để gây đàn mới.
Gây đàn mới là cả một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn. Người nuôi phải biết phát hiện ấu trùng ong chúa, nuôi dưỡng cẩn thận, rồi tách đàn đúng thời điểm. Khi đưa ong chúa sang tổ mới phải “hòa hơi” để ong thợ chấp nhận. “Nếu không làm đúng cách, ong thợ sẽ nhận ra và cắn chết ong chúa mới ngay”, ông Hùng nói.
Nghề nuôi ong cũng là nghề của những chuyến đi. Để có mật, người nuôi phải liên tục di chuyển đàn ong theo mùa hoa. Một năm, ông Tiến di chuyển 6 - 7 lần, khi thì theo mùa hoa vải, hoa nhãn trong tỉnh, lên Thái Nguyên lấy mật hoa bồ đề, lúc lại ngược về Lạng Sơn "đón" hoa tần bì, hoa ngô.
Nhưng hành trình ấy ngày càng trở nên khó khăn. Theo ông Hùng, ông Tiến, nuôi ong bây giờ vất vả hơn trước nhiều. Nguyên nhân không phải do thiếu hoa mà bởi những rủi ro từ chính con người. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật khiến những cánh đồng, vườn cây trở thành “bẫy chết” đối với ong. “Chỉ cần ong hút phải mật ở vườn vừa phun thuốc là có thể chết hàng loạt”, ông Tiến nói.


Người thợ nuôi ong thu hoạch mật.
Những con số được nhắc đến khiến người nghe không khỏi xót xa. Từ đầu năm đến nay, ông Hùng đã ba lần mất đàn, tổng cộng 80 cầu ong. Còn ông Tiến cũng hai lần thiệt hại tới 100 cầu ong do ong “dính” phải vườn hoa vừa phun thuốc bảo vệ thực vật. Đó không chỉ là thiệt hại về kinh tế mà còn là nỗi đau của những người gắn bó cả đời với đàn ong.
Chiều xuống dần trên rừng keo. Ánh nắng dịu lại, trải dài trên những thùng ong xếp hàng ngay ngắn. Đàn ong vẫn miệt mài bay đi, mang về từng giọt mật như chưa từng biết đến những hiểm nguy đang rình rập. Ông Tiến đứng lặng, ánh mắt dõi theo những cánh ong nhỏ bé. “Chỉ mong môi trường sạch hơn, ít thuốc bảo vệ thực vật hơn… để ong còn sống, còn làm mật”, ông nói khẽ.
Tiếng ong bay vẫn vang lên đều đặn như nhịp điệu bền bỉ của sự sống. Ở đó, những người thợ nuôi ong vẫn lặng lẽ chắt chiu từng giọt mật không chỉ để mưu sinh mà còn để dâng cho đời một thứ hương vị kết tinh từ thiên nhiên và lòng người.

4 phút trước
7 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
56 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước