Cha nằm lại chiến trường, con lớn lên qua lời mẹ kể

Gia đình Liệt sĩ Khổng Minh Diện cùng đồng đội của ông tại Nghĩa trang Liệt sĩ Lâm Đồng
1. Ngày gần cuối tháng 7, trong Nghĩa trang Liệt sĩ Lâm Đồng (phường Cam Ly - Đà Lạt), bà Khổng Thị Tíu, 79 tuổi, lặng lẽ ngồi bên mộ chồng, tấm bia ghi “Liệt sĩ Khổng Minh Diện (1947)...”. Mái tóc bạc rung nhẹ, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn một đời tảo tần, bà nói với đứa cháu nội: “Người nằm dưới mộ là ông nội của con đấy” và nước mắt nhòa đi.
Liệt sĩ Khổng Minh Diện quê xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (nay là xã Vĩnh Am, TP Hải Phòng), năm 1964 mới 17 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, công tác tại Bộ Tư lệnh 350 với cấp bậc Thiếu úy, giữ chức C trưởng, phụ trách tuyển quân, huấn luyện và đưa quân vào chiến trường miền Nam.
Mỗi đợt giao quân là đi dọc Trường Sơn, có đoạn băng qua Lào, Campuchia, vào Trung ương Cục (Tây Ninh)... ròng rã kéo dài 9 - 10 tháng cả đi lẫn về. Sau 4 chuyến giao quân hoàn thành nhiệm vụ, ngày 23 tháng giêng năm 1970, ông về phép kết hôn với bà Khổng Thị Tíu, cô gái cùng làng đẹp người, đẹp nết.
Cưới xong, ông lại lên đường thực hiện một đợt giao quân và trở về theo đúng lịch trình vào cuối năm 1970. Được nghỉ phép ít ngày, ông tiếp tục tuyển quân, huấn luyện cho đợt mới. Chiến tranh mỗi lúc một ác liệt, thời gian bên nhau ít ỏi, điều hai vợ chồng mong mỏi nhất là có một đứa con.

Bà Khổng Thị Tíu (thứ 4 từ trái qua) và con cháu cùng đồng đội của chồng trong một sự kiện của Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tại Nghĩa trang Liệt sĩ Lâm Đồng
Ngày 10/4/1971, bà đến đơn vị tiễn chồng lên đường đưa quân vào Nam. Như lắng nghe được sự mong mỏi của họ, sau ngày chia tay ấy, bà nhận ra cơ thể mình có nhiều thay đổi. Theo những chuyến đi trước, khoảng 9 - 10 tháng sau ông sẽ trở về, cũng là lúc con chào đời. Cứ nghĩ đến điều đó, niềm vui của bà dâng lên và nỗi mong đợi cũng ngày càng lớn.
2. Những lá thư ông gửi về lần nào cũng hỏi “kết quả” của lần gặp gỡ trước lúc chia tay, thấp thỏm mong tin vui. Nhưng thư bà không thể gửi đi, vì đơn vị liên tục di chuyển dọc Trường Sơn, không có địa chỉ cố định, nên bà không có cách nào báo cho ông biết mình đã mang thai.
Đầu tháng 1/1972, bà sinh một bé trai kháu khỉnh, gương mặt hiền hậu giống cha. Cũng là 9 - 10 tháng trôi qua, ông vẫn bặt tin. Đồng đội cùng đi làm nhiệm vụ giao quân trở về, còn ông thì không. Những giọt nước mắt theo bà trên đồng ruộng, trên những con đường quen thuộc, nhỏ xuống trong đêm lặng nhìn con ngủ, bà vượt qua mất mát, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần để nuôi con.
Đất nước thống nhất, năm 1976, khi con lên 4 tuổi, bà nhận giấy báo tử ghi chồng hi sinh tại mặt trận phía Nam. Một điều trùng hợp là con sinh ngày 5/1/1972, thì ông hi sinh ngày 15/1/1972, chỉ 10 ngày sau. Đến phút cuối, ông vẫn không biết mình đã có một người con. Đứa trẻ lớn lên cũng chưa một lần được nhìn thấy cha, anh chỉ tưởng tượng hình ảnh người cha qua lời kể của mẹ.

Bà Khổng Thị Tíu cùng con, cháu bên mộ liệt sĩ Khổng Minh Diện
Trải qua những năm bao cấp cùng công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, cuộc sống vô cùng khó khăn; vừa làm cha, vừa làm mẹ, bà nuôi con ăn học, quán xuyến việc gia đình nội, ngoại. Năm 1990, bà vào Đinh Văn Lâm Hà thăm họ hàng, thấy khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, bà quyết định đưa gia đình đến lập nghiệp. Hàng ngày làm thuê, làm mướn gây dựng cuộc sống, bà vẫn luôn động viên con tiếp tục học hành đến nơi đến chốn. Hiểu những hi sinh, tần tảo của mẹ, anh Khổng Hữu Kiên từ nhỏ đã chăm chỉ, hiếu thuận và tự lập. Vừa phụ mẹ làm mọi việc, vừa học đại học, công tác tận tụy, nhiệt huyết và không ngừng tiến bộ.
3. Trong suốt những năm tháng cơ cực ấy, bà luôn nhớ về chồng như một điểm tựa. Bà ngậm ngùi: Cảnh mẹ góa con côi, nên lúc đó chưa bao giờ nghĩ có ngày sẽ tìm được mộ chồng, đất nước mênh mông biết đâu mà tìm. Việc tìm thấy mộ ông đến từ một sự rất tình cờ: Năm 2005, từ một tờ báo cũ gói hoa trái người thân vô tình có được trên tay khi đi chợ về. Những hàng chữ đã nhòe, chữ còn chữ mất, bà chỉ còn đọc được dòng “Liệt sĩ Khổng...”. Linh cảm thôi thúc bà dò hỏi, tìm kiếm; cuối cùng xác định được phần mộ của chồng nằm tại Nghĩa trang Liệt sĩ khu vực gần hồ Dầu Tiếng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là xã Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh).

Bà Khổng Thị Tíu - vợ liệt sĩ Không Minh Diện cùng cháu nội
Từ ngày tiễn chồng lên đường năm 1971 đến khi tìm được ông ở một vùng đất xa xôi giáp biên giới Campuchia đã gần 35 năm. Những giọt nước mắt tưởng như đã cạn khô thì lúc này lại không ngừng rơi trên gương mặt khắc khổ của bà. Năm 2006, bà đưa hài cốt ông về Nghĩa trang Liệt sĩ Lâm Đồng để gần gia đình, tiện đi lại hương khói. Dù không dư dả gì, nhưng bà thuận lợi mua được một căn nhà nhỏ gần nghĩa trang để mỗi lần từ xã Đinh Văn Lâm Hà lên thăm ông không còn phải ở trọ. 20 năm qua, ngôi mộ của ông luôn ấm áp khói hương, bà cùng con cháu thường xuyên viếng thăm.
Chiều muộn, trong Nghĩa trang Liệt sĩ Lâm Đồng, bàn tay nhăn nheo xoa lên tấm bia khắc tên ông. Lấy ông từ thuở đôi mươi, người con gái tháo vát năm nào, từng tích cực tham gia công tác hậu phương, 23 tuổi đã là đại biểu HĐND xã, nay mái tóc đã bạc trắng, gương mặt hằn biết bao nếp nhăn. Còn ông mãi mãi dừng lại ở tuổi 25. Điều an ủi lớn nhất với bà là đã nuôi dạy con trai thành đạt, xây dựng một gia đình đầm ấm, 3 cháu nội trưởng thành.
Quỳnh Uyển .
2 giờ trước
51 phút trước
2 giờ trước
24 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước