🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Các công ty dầu khí Mỹ có thể hưởng lợi 63 tỷ USD trong năm nay từ cú sốc giá dầu

1 giờ trước
Giá dầu thô tăng mạnh kể từ khi cuộc chiến tranh Iran bắt đầu đã tạo ra một cơ hội lớn cho các công ty dầu khí Mỹ, với dự báo cho rằng các công ty này có thể thu được thêm tới 63 tỷ USD trong năm nay...

Ảnh minh họa - Ảnh: Reuters.

Tờ báo Financial Times dẫn mô hình dự báo của ngân hàng đầu tư Jefferies cho biết các nhà sản xuất dầu Mỹ có thể tạo thêm được 5 tỷ USD dòng tiền chỉ trong tháng này, sau khi giá dầu đến nay đã tăng khoảng 47% kể từ khi xung đột bắt đầu vào ngày 28/2.

Nếu giá dầu Mỹ duy trì ở mức cao và trung bình đạt 100 USD mỗi thùng trong năm nay, các công ty sẽ thu về thêm 63,4 tỷ USD từ sản xuất dầu - theo công ty nghiên cứu năng lượng Rystad. Giá dầu WTI giao sau tại New York hiện đã vượt mốc 99 USD/thùng.

Giá dầu Brent giao sau tại London - giá tham chiếu của thị trường dầu lửa toàn cầu - đã vượt qua ngưỡng 100 USD/thùng vào hôm thứ Năm tuần trước. Tổng thống Donald Trump tự hào tuyên bố trên mạng xã hội: “Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, vì vậy khi giá dầu tăng, chúng ta kiếm được rất nhiều tiền”.

Dòng tiền tăng thêm này chủ yếu sẽ rơi vào các công ty dầu đá phiến của Mỹ - những nhà khai thác dầu khí có hoạt động hạn chế ở Trung Đông.

Trong khi đó, bức tranh trở nên phức tạp hơn đối với các công ty dầu khí toàn cầu lớn nhất của Mỹ như ExxonMobil và Chevron, cùng với các đối thủ châu Âu như BP, Shell và TotalEnergies. Đây đều là những doanh nghiệp có tài sản phân bổ rộng khắp ở Vùng Vịnh và bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi việc đóng cửa eo biển Hormuz.

Hoạt động sản xuất dầu khí đã rơi vào tình trạng tạm ngừng tại một số cơ sở mà một số trong 5 hãng Big Oil này có cổ phần, buộc Shell phải tuyên bố tình trạng bất khả kháng đối với các lô hàng khí tự nhiên hóa lỏng mà họ dự định vận chuyển từ nhà máy Ras Laffan của QatarEnergy.

Thách thức trong việc hoạt động dầu khí tại Vùng Vịnh đã được nhấn mạnh trong báo cáo mà SLB - trước đây được biết đến với tên Schlumberger và là công ty dịch vụ mỏ dầu lớn nhất thế giới - công bố vào hôm thứ Năm tuần trước. Trong báo cáo này, SLB đã đưa ra cảnh báo về khả năng lợi nhuận suy giảm.

Ông Martin Houston - Chủ tịch công ty Omega Oil and Gas, cho biết: “Không có người chiến thắng trong tình huống này, và càng chắc chắn là các công ty dầu quốc tế không thắng. Họ thà giữ nguyên hiện trạng của hơn hai tuần trước hơn là chứng kiến cuộc khủng hoảng đẩy giá dầu lên cao như thế này”.

“Các công ty dầu khí quốc gia ở Trung Đông và các đối tác của họ sẽ phải tái thiết cơ sở hạ tầng bị hư hại. Nhưng mối quan tâm thực sự là việc đóng cửa eo biển Hormuz, điều chưa từng xảy ra trước đây dù chỉ trong một thời gian ngắn”, ông Houston nói thêm.

Một giải pháp nhanh chóng cho cuộc khủng hoảng là điều dường như không tồn tại ở thời điểm này. Lãnh tụ tối cao mới của Iran, đại giáo chủ Mojtaba Khamenei, hôm thứ Năm tuần trước tuyên bố nước này sẽ tiếp tục giữ eo biển Hormuz - nơi khoảng 1/5 lượng dầu thô và khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) được tiêu thụ toàn cầu đi qua - trong tình trạng đóng cửa để tạo đòn bẩy chống lại Mỹ và Israel.

Khoảng 18 triệu trong số 20 triệu thùng dầu thường đi qua con đường này mỗi ngày vẫn bị chặn - theo nghiên cứu của ngân hàng Goldman Sachs. Cú sốc này còn nghiêm trọng hơn đối với ngành công nghiệp LNG, với khoảng 1/5 sản lượng toàn cầu bị gián đoạn.

Trong một báo cáo công bố hôm thứ Sáu vừa rồi, ngân hàng đầu tư RBC Capital Markets dự báo xung đột sẽ kéo dài đến mùa xuân và giá dầu Brent có thể vượt quá 128 USD mỗi thùng trong 3-4 tuần tới.

Chuyên gia Thomas Liles của Rystad cho biết: “Việc đóng cửa eo biển sẽ gây tổn thương cho các công ty dầu quốc gia Trung Đông, và các công ty dầu lớn phương Tây - nhóm chiếm khoảng 20% tổng sản lượng dầu thượng nguồn từ Qatar, UAE, Iraq và khu vực trung lập giữa Saudi Arabia và Kuwait, cũng có thể cảm nhận rõ rệt tác động”.

BP và Exxon được dự báo sẽ là những công ty bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi cuộc khủng hoảng ở Trung Đông, vì hơn 1/5 dòng tiền tự do mà hai công ty dự kiến tạo được trong năm 2026 từ các hoạt động sản xuất dầu và LNG toàn cầu của họ là đến từ khu vực này. Con số tương ứng đối với TotalEnergies là 14%, còn của Shell và Chevron lần lượt là 13% và 5% - theo Rystad.

Các nhà phân tích cho rằng sự phụ thuộc của Exxon vào hoạt động tại Trung Đông là một yếu tố khiến cổ phiếu của công ty này tụt hậu so với các đối thủ kể từ khi cuộc khủng hoảng bắt đầu, với mức tăng đến nay chỉ đạt 2%. Trong cùng thời gian, cổ phiếu của BP và Shell đã tăng lần lượt 11% và 9%, phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư rằng bộ phận thương mại của các công ty dầu khí lớn ở châu Âu sẽ lãi nhiều nhờ sự biến động của giá dầu và khí đốt.

Cổ phiếu của hãng dầu khí Na Uy Equinor cũng tăng nhiều hơn các công ty lớn phương Tây khác kể từ khi xung đột bắt đầu vì công ty không phụ thuộc vào Trung Đông. Equinor cũng là nhà cung cấp khí đốt lớn cho châu Âu - thị trường mà giá khí đốt đã tăng mạnh sau khi QatarEnergy ngừng giao các lô hàng LNG từ tuần trước.

Liles cho biết: “Bất kỳ doanh nghiệp dầu khí nào không đặt nhiều quả trứng trong giỏ Trung Đông đều có thể hưởng lợi từ giá dầu khí tăng cao”.

An Huy

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ