🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bình dân học vụ số - động lực, sức mạnh để Việt Nam vươn mình - Bài 3: Chuyển hóa thành hành động thực chất (tiếp theo và hết)

12 giờ trước
'Bình dân học vụ số' được khởi xướng như một phong trào mang tính thời đại, nhưng giá trị đích thực không nằm ở quy mô phát động, mà ở khả năng chuyển hóa thành hành động thực chất, trở thành động lực phát triển trong kỷ nguyên số. Đây là thước đo trực tiếp năng lực lãnh đạo, điều hành và kiến tạo của hệ thống chính trị. Nếu không vượt qua 'quán tính phong trào', 'Bình dân học vụ số' khó tạo ra chuyển biến thực chất.

Kiến tạo năng lực thực thi hiệu quả

Khoảng cách giữa chủ trương và hành động không chỉ là khoảng cách về tổ chức, mà còn là khoảng cách về năng lực quản trị. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh, sâu và phức tạp, nếu không thiết lập được một cơ chế thực thi hiệu quả, thì mọi chủ trương dù đúng đắn cũng có nguy cơ bị “vô hiệu hóa” ngay trong quá trình triển khai. Vì vậy, cần chuyển đổi từ tư duy “triển khai nhiệm vụ” sang tư duy “quản trị kết quả”.

Đây là bước chuyển mang tính bản lề, thay vì tập trung vào việc tổ chức bao nhiêu lớp học, phát động bao nhiêu chương trình, cần tập trung vào việc người dân thực sự thay đổi như thế nào sau khi tham gia. Kết quả không nằm ở số lượng hoạt động, mà ở mức độ chuyển biến năng lực thực tế. Khi cách tiếp cận không thay đổi, thì dù làm nhiều cũng khó tạo ra hiệu quả thực chất.

Chính vì vậy, cần xây dựng cơ chế vận hành theo nguyên tắc minh bạch, đo lường được và có khả năng kiểm chứng độc lập. Mọi hoạt động liên quan đến “Bình dân học vụ số” cần được đặt trong một hệ thống theo dõi, đánh giá liên tục, dựa trên dữ liệu thực tế, tránh phụ thuộc vào báo cáo chủ quan. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính trung thực và hiệu quả của quá trình triển khai. Thiết lập “chuỗi trách nhiệm” xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở. Trách nhiệm không dừng ở việc ban hành văn bản hay chỉ đạo chung, mà phải được cụ thể hóa đến từng cấp, từng vị trí công tác. Khi trách nhiệm không rõ ràng, thì kết quả sẽ bị phân tán; khi trách nhiệm không gắn với chế tài, thì hành động sẽ thiếu quyết liệt.

Cán bộ, chiến sĩ Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại bản Pho I, xã biên giới Pa Tần, tỉnh Lai Châu. Ảnh: ĐỨC DUẨN

Đồng thời, cần đưa yếu tố cạnh tranh lành mạnh vào quá trình triển khai. Các địa phương, đơn vị cần được đặt trong một cơ chế so sánh, xếp hạng dựa trên kết quả thực chất. Sự cạnh tranh này không nhằm tạo áp lực hình thức, mà nhằm kích thích đổi mới, sáng tạo và nâng cao hiệu quả thực thi. Trong một môi trường có cạnh tranh, những mô hình tốt sẽ được nhân rộng nhanh hơn, những hạn chế sẽ bộc lộ rõ hơn.

Ngoài ra, cần tăng cường năng lực điều phối liên ngành. “Bình dân học vụ số” không phải là một nhiệm vụ đơn lẻ, mà là một quá trình liên kết nhiều lĩnh vực: Giáo dục, lao động, thông tin, kinh tế... Nếu thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả, các hoạt động sẽ bị phân mảnh, chồng chéo, làm giảm hiệu quả tổng thể. Do đó, phải có một đầu mối điều phối đủ thẩm quyền, đủ năng lực và đủ trách nhiệm.

Cùng với đó, kiên quyết loại bỏ “vùng an toàn trong thực thi”. Không thể để tồn tại tâm lý làm cầm chừng, làm đối phó, làm để “không sai”. Trong một lĩnh vực biến động nhanh như chuyển đổi số, nếu không dám làm, không dám đổi mới, thì đồng nghĩa với tụt hậu. Phải tạo ra một môi trường mà ở đó, sáng tạo được khuyến khích, thử nghiệm được bảo vệ, nhưng trì trệ và hình thức bị loại bỏ.

Chuyển từ “tổ chức” sang “kích hoạt”

Một phong trào chỉ có sức sống lâu dài khi nó vượt ra khỏi khuôn khổ của một chiến dịch hành chính, trở thành một dòng chảy tự nhiên trong đời sống xã hội. Điều này đòi hỏi phải tái định vị “Bình dân học vụ số” không phải là một chương trình có điểm bắt đầu và kết thúc, mà là một quá trình liên tục, gắn với sự phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng.

Cần chuyển trọng tâm từ “tổ chức” sang “kích hoạt”. Nhà nước không thể và không nên làm thay tất cả, mà phải đóng vai trò kiến tạo, tạo điều kiện để các chủ thể xã hội chủ động tham gia. Khi người dân cảm thấy mình là chủ thể, không phải đối tượng, thì mức độ tham gia sẽ sâu sắc và bền vững hơn.

Gắn chặt phong trào với các hoạt động kinh tế - xã hội cụ thể. Khi kỹ năng số được sử dụng trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, quản lý, giao dịch... thì việc học sẽ trở thành nhu cầu tự nhiên. Ngược lại, nếu tách rời khỏi thực tiễn, phong trào sẽ nhanh chóng mất đi động lực.

Phải khai thác tối đa sức mạnh của mạng lưới xã hội trong lan tỏa tri thức. Trong môi trường số, thông tin lan truyền không theo tuyến tính mà theo mạng lưới. Nếu biết tận dụng, mỗi cá nhân có thể trở thành một “điểm nút” lan tỏa tri thức. Đây là lợi thế mà các phương thức truyền thống không có được.

Tập huấn về AI tại Học viện Chính trị (ngày 6-1-2026). Ảnh: THÀNH TRUNG

Để phong trào thực sự lan tỏa và bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống. Đầu tiên, cần lan tỏa bằng giá trị thực tiễn.

Không có phương thức tuyên truyền nào hiệu quả hơn kết quả cụ thể trong đời sống. Khi người dân trực tiếp cảm nhận được lợi ích từ việc ứng dụng kỹ năng số từ sản xuất, kinh doanh, tiếp cận dịch vụ công đến giao dịch hằng ngày, thì việc học không còn là nghĩa vụ mà trở thành nhu cầu tự thân. Lấy hiệu quả thực tiễn để dẫn dắt nhận thức, lấy kết quả cụ thể để củng cố niềm tin, đó là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đưa “Bình dân học vụ số” từ phong trào trở thành hành động phổ biến trong toàn xã hội.

Tiếp theo, lan tỏa bằng cơ chế khuyến khích phù hợp. Muốn phong trào phát triển thực chất, không thể chỉ dựa vào tuyên truyền, vận động, mà phải thiết kế được hệ thống cơ chế khuyến khích đủ mạnh, đủ trúng và đủ bền để kích thích sự tham gia của toàn xã hội. Khi lợi ích được xác định rõ ràng, phong trào sẽ có động lực nội sinh để phát triển, không phụ thuộc vào sự thúc ép hành chính.

Đồng thời, lan tỏa bằng cộng đồng. Cộng đồng là môi trường lan tỏa tự nhiên, hiệu quả và bền vững nhất đối với mọi phong trào xã hội. Cần chuyển từ cách tiếp cận cá nhân sang tổ chức học tập theo cộng đồng, thông qua việc hình thành các nhóm học tập, câu lạc bộ kỹ năng số, mạng lưới chia sẻ tri thức trong từng khu dân cư. Khi cộng đồng được kích hoạt đúng cách, phong trào sẽ không còn phụ thuộc vào nguồn lực tập trung, mà tự vận hành, tự lan tỏa và tự phát triển.

Đặc biệt, lan tỏa bằng vai trò nêu gương. Trong mọi phong trào, yếu tố nêu gương luôn có sức lan tỏa mạnh mẽ và trực tiếp nhất. Đối với “Bình dân học vụ số”, khi người dân nhìn thấy những kết quả cụ thể từ những người “giống mình”, họ sẽ tin tưởng và sẵn sàng làm theo. Đây là cơ chế lan tỏa tự nhiên, không áp đặt nhưng rất hiệu quả.

Thêm vào đó là, lan tỏa bằng truyền thông đổi mới. Đối với “Bình dân học vụ số”, nếu vẫn duy trì cách làm truyền thống, tuyên truyền áp đặt, nội dung khô cứng, thiếu hấp dẫn, thì khó có thể tạo được sự quan tâm và tham gia thực chất của người dân. Yêu cầu đặt ra là phải đổi mới toàn diện phương thức truyền thông theo hướng linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Nội dung phải ngắn gọn, dễ hiểu, gắn với tình huống cụ thể; hình thức phải sinh động, trực quan, dễ tiếp cận trên các nền tảng số phổ biến. Truyền thông, nếu được tổ chức đúng cách, không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà sẽ trở thành một lực đẩy quan trọng, quyết định tốc độ và quy mô lan tỏa của “Bình dân học vụ số”.

Phúc tra Bình dân học vụ số tại Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam (ngày 4-12-2025). Ảnh: TUẤN HUY

Bám sát thực tiễn, đáp ứng cái cần

Một trong những hạn chế nổi lên hiện nay là nội dung và phương thức phổ cập kỹ năng số chưa thực sự bám sát nhu cầu thực tiễn của người dân. Nhiều chương trình còn nặng lý thuyết, thiếu tính ứng dụng, chưa phân hóa theo đối tượng. Nếu không sớm khắc phục, đây sẽ là điểm nghẽn cản trở hiệu quả của “Bình dân học vụ số”.

Do đó, cần chuyển mạnh tư duy từ “cung cấp cái có” sang “đáp ứng cái cần”. Nội dung phải thiết thực, dễ hiểu, dễ áp dụng; phương thức phải linh hoạt, đa dạng, cá thể hóa theo từng nhóm đối tượng. Với nông dân là kỹ năng kinh doanh số; với người lao động là kỹ năng tìm việc, làm việc trên nền tảng số; với người cao tuổi là sử dụng dịch vụ công và bảo vệ thông tin cá nhân; với học sinh, sinh viên là học tập, sáng tạo, khởi nghiệp số.

Đồng thời, phải tận dụng tối đa nền tảng số để đổi mới phương thức học tập: Trực tuyến, tương tác, cá thể hóa. Không thể duy trì cách dạy truyền thống trong một môi trường hoàn toàn mới. Không thể không nhắc tới yếu tố đột phá về tổ chức thực hiện, biến phong trào thành hành động cụ thể. Thực tiễn đã chứng minh, không ít chủ trương đúng nhưng khi triển khai lại rơi vào hình thức, thiếu hiệu quả. Vì vậy, đột phá về tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định.

Phải xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm. Mỗi địa phương phải có kế hoạch cụ thể, sát thực tiễn, tránh dàn trải, hình thức. Đặc biệt, phải phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở - lực lượng trực tiếp tiếp cận và vận động người dân. Đây chính là “cánh tay nối dài” đưa “Bình dân học vụ số” đến từng thôn, bản, tổ dân phố. Cùng với đó, cần xây dựng và nhân rộng các mô hình điểm, điển hình tiên tiến; lấy kết quả thực tiễn để chứng minh, thuyết phục, lan tỏa. Không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, vận động.

Ngoài ra, cần phải đột phá về nguồn lực, huy động sức mạnh toàn xã hội. “Bình dân học vụ số” không thể thành công nếu chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước. Đây phải là phong trào toàn dân, toàn diện, trong đó mọi chủ thể đều tham gia, đều đóng góp. Cần huy động mạnh mẽ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghệ, tham gia cung cấp nền tảng, giải pháp, hỗ trợ đào tạo kỹ năng số. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, cơ sở giáo dục, cộng đồng dân cư.

Mỗi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể tích cực tham gia, lan tỏa tri thức số. Tinh thần "người biết dạy người chưa biết" phải được khơi dậy mạnh mẽ trong môi trường số, trở thành động lực tự thân của xã hội. Đây không chỉ là giải pháp, mà còn là phương thức phát triển bền vững. Thực tiễn đang đặt ra một lựa chọn mang tính quyết định: Hoặc tạo ra những đột phá chiến lược để thúc đẩy chuyển đổi số toàn dân, hoặc chấp nhận nguy cơ tụt hậu ngay trong chính cuộc cạnh tranh của thời đại số. Không có con đường trung gian, không có lựa chọn an toàn. Nếu chậm trễ, nếu thiếu quyết liệt, thì không chỉ tụt hậu, mà còn đối mặt với nguy cơ bị lệ thuộc, bị dẫn dắt.

Trung tá HOÀNG TRƯỜNG GIANG - Thượng tá NGUYỄN TRUNG TUYÊN

TIN LIÊN QUAN































Home Icon VỀ TRANG CHỦ