Bình dân học vụ số - động lực, sức mạnh để Việt Nam vươn mình - Bài 2: Những cú hích mang tính đột phá
Đột phá về nhận thức
Thực tiễn cho thấy, nếu không có những đột phá mạnh mẽ thì “Bình dân học vụ số” rất dễ rơi vào tình trạng hình thức, phong trào, thậm chí bị biến dạng, không tạo ra được tác động thực chất. Do đó, cần xác định rõ: Thúc đẩy chuyển đổi số toàn dân không phải là quá trình tuyến tính, càng không phải là phong trào nhất thời, mà là quá trình đòi hỏi những cú hích mang tính đột phá, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa nhanh, sâu rộng trong toàn xã hội, đủ sức khắc phục tư duy trì trệ, tâm lý ngại đổi mới.
Trước tiên là đột phá về nhận thức, từ “khuyến khích học” sang “bắt buộc phải thích ứng”. Đột phá đầu tiên, có ý nghĩa nền tảng và mang tính quyết định, chính là đột phá về nhận thức. Đây không chỉ là điểm khởi đầu, mà còn là yếu tố xuyên suốt, chi phối toàn bộ tiến trình thúc đẩy chuyển đổi số toàn dân. Trong kỷ nguyên số, khi công nghệ đang tái định hình mọi lĩnh vực, việc trang bị tri thức và kỹ năng số không còn là lựa chọn tự nguyện, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc, là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Không có năng lực số, đồng nghĩa với việc tự đứng ngoài dòng chảy phát triển, đối mặt nguy cơ tụt hậu trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Đây không chỉ là vấn đề phát triển mà còn là vấn đề an ninh phát triển.
Tại phiên đối thoại chính sách cấp cao giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và lãnh đạo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2025 (ngày 26-11-2025), Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Việt Nam bước ra từ chiến tranh, từng trải qua đói nghèo, lạc hậu; nông nghiệp, công nghiệp đã lần lượt giúp đất nước vươn lên và giờ đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh được xác định là “động lực mới” để đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Từ góc độ kinh tế, chuyển đổi số - chuyển đổi xanh giúp tăng năng suất, giảm chi phí, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm phát thải, nâng cao chất lượng tăng trưởng. Từ góc nhìn chiến lược quốc phòng - an ninh, trong bối cảnh chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng ngày càng hiện hữu, sức mạnh quốc phòng không chỉ đo bằng binh lực, vũ khí trang bị, mà còn bằng trình độ công nghệ, năng lực huy động, xử lý và bảo vệ dữ liệu, khả năng duy trì hoạt động của nền kinh tế - xã hội trong mọi tình huống.

Tập huấn hệ thống điều hành của Trung tâm chỉ huy tại Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển. Ảnh: TUẤN HUY
Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận, nhận thức về chuyển đổi số ở nhiều nơi vẫn còn phiến diện, thậm chí lệch lạc. Có nơi đồng nhất chuyển đổi số với trang bị công nghệ; có nơi khoán trắng cho ngành công nghệ thông tin; có nơi triển khai theo phong trào, thiếu chiều sâu, hiệu quả thấp.
Đáng lo ngại hơn, một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân còn e ngại, né tránh, thiếu quyết tâm thay đổi, trở thành lực cản đối với tiến trình chuyển đổi số. Nếu không kịp thời khắc phục, những hạn chế này sẽ trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, làm suy giảm hiệu lực chính sách, thậm chí bị các quan điểm sai trái lợi dụng, gây nhiễu loạn nhận thức. Do đó, cần tiến hành một cuộc “cách mạng nhận thức” sâu rộng, kiên quyết và đồng bộ, tạo chuyển biến thực chất trong toàn xã hội.
“Bình dân học vụ số” trước hết là nâng cao năng lực của từng cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tiên phong, gương mẫu; mỗi người dân phải nhận thức rõ lợi ích thiết thân của kỹ năng số đối với đời sống. Không thể tiếp tục tình trạng “nói nhiều, làm ít”, “trên nóng, dưới lạnh”. Nhận thức phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể, trở thành nhu cầu tự thân và động lực phát triển. Chỉ khi nhận thức “thông”, hành động mới “suốt”, khi đó “Bình dân học vụ số” mới thực sự đi vào chiều sâu và bền vững.
Đòn bẩy thể chế, mở đường hạ tầng
Bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, thể chế luôn là động lực khai phá mở đường. Đột phá về thể chế tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy phổ cập số. Thể chế chính là điều kiện đủ, là “đòn bẩy” trực tiếp thúc đẩy hành động, chuyển hóa nhận thức thành kết quả cụ thể trong thực tiễn. Đây không chỉ là yếu tố hỗ trợ, mà còn là lực dẫn dắt, điều tiết và bảo đảm cho quá trình chuyển đổi số toàn dân diễn ra đúng hướng, hiệu quả và bền vững.
Nếu thiếu một hệ thống thể chế phù hợp, mọi nỗ lực, dù quyết tâm đến đâu, cũng có nguy cơ bị triệt tiêu bởi những rào cản từ cơ chế chính sách, quy trình thủ tục cho đến tư duy quản lý lạc hậu. Để thúc đẩy “Bình dân học vụ số” đi vào thực chất, cần có những đột phá mạnh mẽ về thể chế theo hướng đổi mới căn bản tư duy quản lý. Phải kiên định nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, lấy kết quả phổ cập kỹ năng số làm tiêu chí đánh giá. Mọi cơ chế, chính sách đều phải hướng tới tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận, sử dụng và làm chủ công nghệ số. Khẩn trương ban hành các chính sách đủ mạnh để hỗ trợ người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế tiếp cận công nghệ và học tập kỹ năng số một cách bình đẳng. Thiết lập cơ chế khuyến khích hiệu quả để thu hút doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghệ, tham gia sâu vào quá trình này.
Việc đưa tiêu chí năng lực số vào đánh giá cán bộ cần thực hiện thực chất, gắn với kết quả công việc, đồng thời đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Kiên quyết loại bỏ tư duy quản lý cũ, mạnh dạn thí điểm cơ chế mới, tạo không gian cho đổi mới sáng tạo. Không thể áp dụng cách quản lý lạc hậu cho một lĩnh vực vận động nhanh như chuyển đổi số. Chỉ khi thể chế thực sự được “mở khóa”, trở thành động lực thay vì rào cản, thì “Bình dân học vụ số” mới có thể lan tỏa sâu rộng, tạo chuyển biến thực chất và bền vững trong toàn xã hội.
Bên cạnh đó là yêu cầu mở đường về hạ tầng, bảo đảm “mọi người dân đều có điều kiện tiếp cận số”. Đây không chỉ là một yêu cầu mang tính tiên quyết, mà còn là nền tảng vật chất trực tiếp quyết định khả năng hiện thực hóa mọi chủ trương, chính sách về chuyển đổi số. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được bước tiến đáng kể trong phát triển hạ tầng viễn thông, internet, từng bước hình thành nền tảng quan trọng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Kiểm tra hệ thống máy chủ ở Vùng Cảnh sát biển 1 (ngày 4-12-2025). Ảnh: TUẤN HUY
Về hạ tầng viễn thông băng rộng di động, mức độ phủ sóng trên phạm vi toàn quốc đã đạt 99,88% thôn, bản có kết nối băng rộng di động, tạo điều kiện để người dân ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận các dịch vụ số một cách thuận lợi. Mạng 4G phủ sóng tới 99,8% dân số, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội sử dụng internet tốc độ cao. Tỷ lệ người dân dùng điện thoại thông minh đạt 91,3% tổng số thuê bao di động, phản ánh sự phổ biến của thiết bị thông minh và là nền tảng quan trọng để thúc đẩy thanh toán số, học tập trực tuyến, thương mại điện tử và các dịch vụ công trên môi trường số. Công nghệ 5G tiếp tục được triển khai theo lộ trình.
Đến nay, 26% dân số đã được phủ sóng 5G. Mặc dù mới ở giai đoạn đầu, nhưng đây là bước tiến quan trọng để mở rộng ứng dụng 5G trong sản xuất, công nghiệp thông minh, logistics, giao thông thông minh và các dịch vụ số ở đô thị lớn. Một trong những điểm nhấn quan trọng của hạ tầng số quốc gia là sự phát triển nhanh của hạ tầng trung tâm dữ liệu (Data Center). Cả nước hiện có 41 trung tâm dữ liệu thương mại, với tổng công suất thiết kế đạt 221MW. Đây là mức tăng đáng kể, thể hiện sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực hạ tầng số...
Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, sự phát triển này vẫn chưa đồng đều, còn tồn tại khoảng cách lớn giữa các vùng, miền. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải có những đột phá mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ trong phát triển hạ tầng số, với tầm nhìn dài hạn và cách tiếp cận toàn diện. Trước hết, cần tiếp tục đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm phổ cập internet băng rộng đến mọi người dân, mọi địa bàn. Không thể chấp nhận tình trạng “trắng sóng”, “lõm kết nối” trong kỷ nguyên số, bởi đó không chỉ là khoảng trống về hạ tầng, mà còn là khoảng trống về cơ hội phát triển.
Cần triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm giảm chi phí tiếp cận công nghệ cho người dân, từ thiết bị đầu cuối đến dịch vụ kết nối, bảo đảm mọi người dân đều có khả năng tham gia môi trường số với chi phí hợp lý. Đồng thời, phải chú trọng phát triển các nền tảng số quốc gia theo hướng thân thiện, dễ sử dụng, phù hợp với mọi đối tượng, đặc biệt là người cao tuổi, người ít có điều kiện tiếp cận công nghệ. Hạ tầng số không chỉ là “đường truyền”, mà còn là hệ sinh thái nền tảng, nơi người dân có thể học tập, làm việc, giao dịch và tương tác một cách thuận tiện, an toàn. Nếu không có tầm nhìn và quyết tâm đủ lớn, chúng ta không chỉ chậm bước, mà còn có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt của kỷ nguyên số.
Ngược lại, nếu hành động đúng, trúng, quyết liệt và đến cùng, “Bình dân học vụ số” sẽ trở thành động lực to lớn, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững. Đột phá hay tụt hậu, đó không chỉ là câu hỏi mang tính lựa chọn, mà là mệnh lệnh của thời đại. Và câu trả lời duy nhất phải là hành động ngay, hành động mạnh mẽ, hành động hiệu quả và hành động đến cùng.
(còn nữa)
Trung tá HOÀNG TRƯỜNG GIANG - Thượng tá NGUYỄN TRUNG TUYÊN
1 giờ trước
12 giờ trước
6 ngày trước
9 ngày trước
15 ngày trước
16 ngày trước
19 ngày trước
20 ngày trước
20 ngày trước
1 tháng trước
2 giờ trước
21 phút trước
2 phút trước
4 phút trước
4 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
12 phút trước
15 phút trước
15 phút trước
17 phút trước
22 phút trước