Biến thách thức hôm nay thành động lực phát triển bền vững
Phóng viên: Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang được dư luận cũng như các chuyên gia về quy hoạch đặc biệt quan tâm, ông nhìn nhận việc này như thế nào?
KTS Trần Huy Ánh: Ngày 17/3 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TW của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới" (Nghị quyết 02). Trong đó xác định, Thủ đô Hà Nội là trung tâm kiến tạo, giữ vai trò dẫn dắt, định hình mô hình và tư duy phát triển mới. Đồng thời, Hà Nội cũng là hạt nhân cực tăng trưởng và động lực lan tỏa của cả nước.
Nghị quyết 02 cũng đặt ra Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn dài hạn 100 năm, ổn định theo không gian phát triển mở, cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm", lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo; gắn kết chặt chẽ với vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc và các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế.
Như vậy, chúng ta thấy rằng Quy hoạch tổng thể Thủ đô phải đáp ứng được các nhu cầu của xã hội. Trung ương và TP Hà Nội đã quyết tâm lập bản quy hoạch tầm nhìn 100 năm với mong muốn có tầm nhìn xa nhưng đáp ứng được cả nhiệm vụ giải quyết những điểm nghẽn trước mắt, xây dựng được kịch bản phát triển ổn định, lâu dài.
Bản Quy hoạch phải giải quyết ngay vấn nạn rất gần, đó là ùn tắc giao thông, môi trường ô nhiễm, úng ngập đô thị, chất lượng sống suy giảm, trong đó thiếu không gian công cộng, cây xanh, mặt nước, trường học, thực phẩm an toàn… Đấy cũng chính là mong muốn của nhân dân.
Trong quá trình thực hiện lập quy hoạch có “bước” lấy ý kiến nhân dân và cá nhân tôi thấy, trong thời gian này rất may là có Nghị quyết 02 ra đời, như một kim chỉ nam, một cơ sở vững chắc về khoa học và pháp lý cho việc lập và phê duyệt quy hoạch tổng thể Thủ đô, đặc biệt loại bỏ tầm nhìn hạn hẹp của các bản quy hoạch đã lập.

KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội.
Phóng viên: Vậy thưa ông, từ những điểm nghẽn mà ông nêu trên, Hà Nội cần xây dựng mô hình phát triển bền vững như thế nào?
KTS Trần Huy Ánh: Quy hoạch mới chỉ thực sự có giá trị khi nhận diện đúng thực trạng và các “điểm nghẽn” của đô thị, đồng thời áp dụng phương pháp tiếp cận tích hợp, dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Quy hoạch không chỉ mô tả địa hình hay khoanh vùng chức năng. Quan trọng hơn là phải chỉ ra thuận lợi và thách thức của hiện trạng kinh tế – xã hội, nhận diện rõ những lĩnh vực thiếu hụt, bão hòa để lựa chọn giải pháp phù hợp. Nhiều bản quy hoạch trước đây của Hà Nội thiếu tính khả thi do không được tích hợp đồng bộ giữa các lĩnh vực hạ tầng, kinh tế, môi trường và nguồn lực đầu tư. Điều này khiến nhiều ý tưởng chỉ dừng lại trên giấy. Vì vậy, quy hoạch mới cần thay đổi cách tiếp cận: sử dụng công nghệ số và dữ liệu lớn để điều phối các mối quan hệ đa ngành, giải quyết nhiều mục tiêu cùng lúc.
Một ví dụ quan trọng là “bản đồ hiện trạng toàn TP”. Một trong những vấn đề nổi bật của Hà Nội hiện nay là ùn tắc giao thông. Đây không chỉ là hiện tượng mà còn là hệ quả của những hạn chế trong quy hoạch trước đây. Nhiều tuyến đường hay dự án hạ tầng được vẽ ra nhưng thiếu khảo sát, dự báo nhu cầu và nguồn lực đầu tư. Hệ quả là không có mặt bằng hoặc không thu hút được vốn, khiến dự án không thể triển khai.
Hai điểm nghẽn lớn khác của Hà Nội là ô nhiễm môi trường và ngập úng đô thị, quá trình rà soát quy hoạch trước đây, nhiều chuyên gia đã chỉ ra hạn chế của mô hình xử lý nước thải tập trung quy mô lớn, đồng thời khuyến nghị chuyển sang mô hình phân tán hoặc bán tập trung. Nhưng tôi thấy một số đề xuất trong quy hoạch mới vẫn tiếp tục mở rộng mô hình tập trung ở quy mô lớn hơn, thậm chí ở cấp vùng. Cá nhân tôi thấy tiếp cận này tiềm ẩn rủi ro cao vì chi phí đầu tư và vận hành lớn, trong khi hiệu quả không bền vững. Các giải pháp như đào bể ngầm hay sông ngầm quy mô lớn rất tốn kém và thiếu cơ sở khoa học nếu không dựa trên phân tích thủy văn đầy đủ của hệ thống sông Hồng - Thái Bình.
Để phát triển bền vững, quy hoạch trăm năm cần nền tảng công nghệ số. Tái thiết đô thị không thể chỉ dừng ở vài bản vẽ 2D, 3D, mà là cả quá trình tiến hóa của mô hình tài chính, khung pháp lý, bộ máy quản trị và sự tham gia của toàn xã hội. Hà Nội đang triển khai bộ ba công cụ gồm GIS (hệ thống thông tin địa lý), BIM (mô hình thông tin công trình) và CDE (môi trường dữ liệu dùng chung) nhằm giám sát và điều phối dòng lưu chuyển vật chất trong đô thị. Hà Nội không thể bước vào kỷ nguyên mới bằng công cụ và phương pháp cũ.
Quy hoạch cần được xây dựng trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số, thay vì chỉ dựa vào những bản vẽ đơn giản như hiện nay. Tóm lại, quy hoạch tầm nhìn 100 năm không chỉ là một bộ bản vẽ, mà phải là một hệ thống quản trị phát triển đô thị liên tục, có khả năng thích ứng với biến đổi kinh tế, xã hội và môi trường. Nếu nhận diện đúng các điểm nghẽn hiện tại và áp dụng phương pháp tiếp cận mới, Hà Nội có thể biến những thách thức hôm nay thành động lực cho một đô thị phát triển bền vững trong thế kỷ tới.

Hà Nội sẽ phát triển đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm", lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo. Ảnh: Trung Nguyên
Phóng viên: Nghị quyết 02 nêu rất rõ, xác định hạ tầng là trục xương sống của phát triển, giữ vai trò dẫn dắt tổ chức không gian và phân bổ các hoạt động kinh tế - xã hội. Ưu tiên phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực, các hành lang phát triển của Thủ đô, kết nối nội vùng và liên vùng. Đầu tư xây dựng nhanh hệ thống đường sắt đô thị, và phát triển đường sắt tốc độ cao kết nối vùng, cảng sông, sân bay. Theo ông, Hà Nội cần phải làm gì để phát triển hệ thống đường sắt để tạo được tính liên kết vùng?
KTS Trần Huy Ánh: Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm của UBND TP Hà Nội đưa ra lộ trình, giai đoạn từ nay đến 2035: Có khoảng 400 - 450 km: Hình thành khung mạng cơ bản, tập trung các tuyến trục xuyên đô thị; metro lõi nội đô và các đoạn ưu tiên của tuyến vòng với mục tiêu là tạo hiệu ứng mạng, nâng nhanh thị phần giao thông công cộng; giai đoạn 2035 - 2045 có khoảng 700 - 750 km: Mở rộng mạng lưới ra khu vực nội đô mở rộng và đô thị vệ tinh, tăng cường các tuyến tàu kết nối và đường sắt đô thị tốc độ cao, từng bước giảm phụ thuộc và phương tiện cá nhân. Tiếp đó, giai đoạn 2045 - 2065 có khoảng trên 1000 km: Hoàn chỉnh mạng vùng Thủ đô, tích hợp sâu với đường sắt quốc gia và đường sắt tốc độ cao, sẵn sàng mở rộng kết nối liên tỉnh và quốc tế.
Lộ trình này là đúng hướng vì phát triển theo lớp sẽ bảo đảm mỗi giai đoạn đều là một mạng hoàn chỉnh, có hiệu quả khai thác thực chất. Hà Nội đã khởi công các dự án mới, đồng thời chuẩn bị triển khai các tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối liên vùng. Điều đó cho thấy quyết tâm rất cao trong phát triển đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị. Mạng lưới đường sắt là trục xương sống tạo nên cấu trúc đô thị tương lai của vùng Thủ đô. Khi các trung tâm dân cư hình thành hệ thống di chuyển nội vùng và liên vùng trong khoảng 60 phút bằng ô tô hoặc 30 phút bằng tàu thì mạng lưới liên kết các trung tâm đó không còn bị giới hạn bởi ranh giới hành chính.
Như vậy, quy hoạch Hà Nội sẽ không còn khái niệm trục, cực, trung tâm theo cách gọi cũ trong địa giới hành chính hiện nay, mà sẽ hình thành mạng lưới các trung tâm đô thị quanh Hà Nội trong bán kính từ 10-60km. Cấu trúc liên kết giữa đường sắt, đường bộ, đường thủy và hàng không tầm thấp sẽ tạo ra sự chia sẻ nguồn lực giữa các địa phương trong vùng Thủ đô. Không chỉ phân bổ lại không gian định cư, mà còn tạo ra các vành đai xanh sinh thái bao quanh đô thị, hình thành vành đai luân chuyển vật chất giữa đô thị và nông thôn, tái sinh nước thải, rác hữu cơ, sản xuất và cung ứng thực phẩm, nước sạch, tạo lập mạng lưới các đơn vị tự chủ sinh thái tuần hoàn bền vững.
Mạng lưới đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia liên kết, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau sẽ giúp Hà Nội trở thành trung tâm dẫn dắt phát triển cho cả vùng, tạo động lực cho các địa phương phát huy thế mạnh riêng. Tuy nhiên, đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị hiện đại có nhiều kỹ thuật phức tạp, chưa có đầy đủ trong hệ thống tiêu chuẩn công nghệ của Việt Nam. Dự án có giá trị lớn, đòi hỏi mô hình quản trị và huy động vốn trong nước, quốc tế phù hợp với hệ thống pháp luật.
Vì vậy, bên cạnh việc lập quy hoạch, Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, trong đó có các quy định của Luật Thủ đô. Quy hoạch phải đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư, còn thể chế (Luật Thủ đô) phải bảo đảm an toàn cho nguồn vốn. Việc chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng mô hình thông tin công trình, hệ thống thông tin địa lý và môi trường dữ liệu dùng chung sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Nếu quy hoạch và thể chế không bắt kịp ngôn ngữ giao dịch toàn cầu, thì các bản vẽ chỉ là viễn cảnh. Khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và cộng đồng chuyên gia, mạng lưới đường sắt tích hợp, hiện đại và bền vững cho Thủ đô mới có thể từng bước hiện thực hóa trong tầm nhìn 100 năm.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
Ngọc Yến
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
9 giờ trước
19 giờ trước