3 yếu tố để các cơ sở chăm sóc người cao tuổi hoạt động hiệu quả hơn

Cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày người cao tuổi tại điểm Trạm Y tế Thạch Bàn, phường Long Biên.
Già hóa dân số đang diễn ra nhanh hơn và sâu hơn so với những gì chúng ta từng hình dung. Năm 2026 cả nước có gần 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm khoảng 16% dân số. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn dân số già, và đến năm 2050, người cao tuổi có thể chiếm trên 25% dân số.
Điều đáng quan tâm là cơ cấu bên trong nhóm này cũng đang thay đổi rất nhanh. Nhóm từ 80 tuổi trở lên đang tăng nhanh; phụ nữ chiếm khoảng 55-56% tổng số người cao tuổi và tỷ lệ này lên khoảng 60-65% ở nhóm từ 80 tuổi trở lên.
Điều đó có nghĩa là chúng ta không thể tiếp cận chính sách người cao tuổi theo cách cũ. Đây không còn là một nhóm dân số nhỏ cần hỗ trợ riêng biệt, mà đang trở thành một bộ phận ngày càng lớn.
Đặc biệt, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện khoảng 74,7 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 năm. Khoảng cách gần 10 năm này cho thấy một vấn đề rất quan trọng, phải làm sao để kéo dài những năm sống khỏe, độc lập và có chất lượng.
Già hóa dân số không chỉ làm thay đổi cơ cấu dân số mà còn kéo theo những thay đổi sâu sắc trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội. Khi tuổi thọ tăng, số người sống lâu với các bệnh mạn tính, suy giảm chức năng hoặc cần hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày cũng tăng theo.
Xung quanh vấn đề này, bà Nguyễn Thị Yến, Trưởng phòng Người cao tuổi, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế, về chính sách thích ứng với già hóa dân số, đã chia sẻ về định hướng phát triển dịch vụ chăm sóc dài hạn và giải pháp từng bước hình thành mạng lưới chăm sóc người cao tuổi với sự tham gia của Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và gia đình.
Chính sách người cao tuổi phải thích ứng với xã hội già hóa
Theo bà Nguyễn Thị Yến, tốc độ già hóa dân số nhanh đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng chính sách. Nếu trước đây chính sách người cao tuổi chủ yếu tập trung vào hỗ trợ những trường hợp khó khăn thì trong giai đoạn mới, trọng tâm cần chuyển sang phòng ngừa, chăm sóc chủ động và phát huy vai trò của người cao tuổi.
"Chúng ta không nên chỉ nhìn người cao tuổi dưới góc độ là đối tượng cần được trợ giúp. Người cao tuổi còn là một nguồn lực với kinh nghiệm, tri thức và những đóng góp rất lớn cho gia đình, cộng đồng và xã hội", bà Yến nói.
Theo bà, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến người cao tuổi và thích ứng với già hóa dân số. Có thể nói hành lang chính sách đang ngày càng được hoàn thiện. Trước hết là Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12, quy định tương đối toàn diện về quyền của người cao tuổi, trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội; đồng thời quy định về chăm sóc sức khỏe, cơ sở chăm sóc người cao tuổi và phát huy vai trò người cao tuổi.
Tiếp đó, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, có hiệu lực từ 1/7/2025, đã bổ sung tầng trợ cấp hưu trí xã hội. Theo Điều 21, công dân từ đủ 75 tuổi trở lên, đáp ứng điều kiện luật định, được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đáp ứng điều kiện cũng thuộc diện hưởng. Đây là bước tiến quan trọng trong việc mở rộng mạng lưới an sinh xã hội theo hướng đa tầng. Đặc biệt, Luật Dân số số 113/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã đặt vấn đề thích ứng với già hóa dân số trong một khung pháp lý mới. Trên cơ sở đó, Nghị định 168/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa các hình thức chăm sóc người cao tuổi tại nhà và cộng đồng.

Chính sách người cao tuổi phải thích ứng với xã hội già hóa.
Ngoài ra, Quyết định 383/QĐ-TTg ngày 21/2/2025 phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, đặt ra nhiều mục tiêu rất cụ thể về chăm sóc sức khỏe, việc làm, dịch vụ xã hội và phát huy vai trò người cao tuổi. Chiến lược đặt mục tiêu giai đoạn 2025-2030 có ít nhất 50% xã, phường, thị trấn có câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau hoặc mô hình câu lạc bộ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; ít nhất 90% người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám định kỳ và lập hồ sơ theo dõi sức khỏe; đồng thời từng bước phát triển các mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú và nhà xã hội an toàn tại cộng đồng.
Như vậy, có thể thấy chính sách đang chuyển khá rõ từ "trợ giúp" sang "chăm sóc, phòng ngừa, phục hồi và phát huy". Việc chuẩn bị cho tuổi già không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước hay gia đình mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân.
"Chuẩn bị cho tuổi già phải được thực hiện từ sớm. Mỗi người cần quan tâm đến sức khỏe, tài chính, tâm lý, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và duy trì các mối quan hệ xã hội. Khi có sự chuẩn bị tốt, chúng ta sẽ chủ động hơn khi bước vào tuổi già", bà Nguyễn Thị Yến chia sẻ.
Theo bà Yến, mục tiêu cuối cùng của chính sách không phải chỉ là bảo đảm người cao tuổi có nơi ăn, chốn ở hay được trợ cấp, mà quan trọng hơn là giúp họ duy trì khả năng tự chủ và chất lượng cuộc sống.
"Chúng ta hướng tới việc người cao tuổi được sống khỏe, sống có ích, được tôn trọng và tiếp tục phát huy kinh nghiệm, trí tuệ của mình. Muốn làm được điều đó thì chính sách phải đồng thời quan tâm đến y tế, chăm sóc xã hội, phục hồi chức năng và đời sống tinh thần", bà Yến nhấn mạnh.
Từ cách tiếp cận này, hệ thống chăm sóc cần được thiết kế theo từng nhóm người cao tuổi. Người còn khỏe mạnh cần được tạo điều kiện duy trì cuộc sống độc lập; người có nguy cơ suy giảm chức năng cần được phòng ngừa và hỗ trợ sớm; trong khi những người mất khả năng tự chăm sóc cần được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc dài hạn chuyên nghiệp.
Cùng với đó, mạng lưới bệnh viện lão khoa, chuyên khoa lão trong các bệnh viện đa khoa và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần tiếp tục được phát triển, giúp người cao tuổi tiếp cận dịch vụ thuận lợi hơn.
Khi gia đình không còn đủ khả năng chăm sóc
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là mô hình gia đình Việt Nam đang thay đổi. Phần lớn người cao tuổi vẫn sống cùng hoặc gần con cháu, nhưng quy mô hộ gia đình ngày càng nhỏ. Số người bình quân trong một hộ giảm từ 3,8 người năm 2009 xuống 3,5 người năm 2024.

Bà Nguyễn Thị Yến, Trưởng phòng Người cao tuổi, Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế
Trong khi đó, con cái có thể sống xa nhà, thời gian dành cho cha mẹ hạn chế do áp lực công việc và chăm sóc con nhỏ. Nhiều gia đình phải đồng thời giải quyết bài toán kinh tế, nuôi dạy con và chăm sóc cha mẹ già.
Theo bà Nguyễn Thị Yến, đây là một trong những lý do Việt Nam cần nhìn nhận chăm sóc dài hạn như một vấn đề của toàn xã hội. Chúng ta không phải thay đổi vai trò của gia đình, mà là thay đổi cách thức chia sẻ trách nhiệm chăm sóc.
Gia đình vẫn phải là nền tảng quan trọng nhất về tình cảm, sự gắn bó và trách nhiệm đối với người cao tuổi. Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 cũng xác định trách nhiệm chủ yếu của gia đình trong phụng dưỡng người cao tuổi, đồng thời quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện để thực hiện toàn bộ việc chăm sóc, nhất là khi người cao tuổi bị suy giảm chức năng hoặc mắc nhiều bệnh mạn tính", bà nói.
Nhu cầu chăm sóc người cao tuổi hiện cũng ngày càng đa dạng. Không chỉ hỗ trợ tài chính, người cao tuổi có thể cần được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, hỗ trợ ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại, sử dụng thuốc, giao tiếp và chăm sóc sức khỏe tinh thần.
Vì vậy, chúng ta cần chuyển từ tư duy "a đình phải tự chăm sóc tất cả" sang tư duy "gia đình là trung tâm tình cảm nhưng xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc".
Nhà nước xây dựng chính sách và cơ chế hỗ trợ; cộng đồng cung cấp các dịch vụ gần nơi người cao tuổi sinh sống; doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia cung cấp dịch vụ; gia đình vẫn giữ vai trò trung tâm. Đó là cách tiếp cận phù hợp hơn với một xã hội đang già hóa nhanh, bà Yến nói.
Một hệ thống chăm sóc dài hạn cũng cần đa dạng về mô hình. Người cao tuổi có thể được chăm sóc tại nhà nếu còn khả năng tự chủ; được hỗ trợ tại câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, các điểm chăm sóc ban ngày ở cộng đồng, hoặc được chăm sóc tại cơ sở chuyên nghiệp khi tình trạng sức khỏe và mức độ phụ thuộc tăng lên.
"Điều quan trọng là phải tạo ra nhiều lựa chọn để người cao tuổi và gia đình có thể lựa chọn mô hình phù hợp với tình trạng sức khỏe, mức độ tự chủ và điều kiện kinh tế. Không phải người cao tuổi nào cũng cần vào cơ sở chăm sóc tập trung", bà Yến phân tích.
Xây dựng cơ sở chăm sóc người cao tuổi phù hợp với khả năng chi trả của người dân
Một hướng đi đang được quan tâm là phát triển các điểm chăm sóc người cao tuổi ban ngày tại cộng đồng. Theo quy định được dẫn trong Nghị định số 168/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, điểm chăm sóc người cao tuổi ban ngày tại cộng đồng là mô hình đặc thù thuộc trạm y tế, hỗ trợ người cao tuổi theo hình thức "sáng đi, tối về".

Cơ sở chăm sóc người cao tuổi "sáng đi tối về" tại điểm Trạm Y tế Thạch Bàn, phường Long Biên.
Điểm chăm sóc có thể được bố trí tại trạm y tế xã, điểm trạm y tế, nhà văn hóa hoặc địa điểm phù hợp khác. Theo bà Nguyễn Thị Yến, đây là mô hình có thể giúp đưa dịch vụ chăm sóc đến gần người cao tuổi, đồng thời tận dụng hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có tại địa phương.
"Mô hình chăm sóc ban ngày có ưu điểm là người cao tuổi vẫn được sống trong gia đình, trong môi trường quen thuộc, nhưng ban ngày có thể đến một địa điểm phù hợp để được chăm sóc, giao lưu, sinh hoạt và hỗ trợ. Đây là cách vừa hỗ trợ người cao tuổi, vừa giảm áp lực cho gia đình", bà Yến cho biết.
Mô hình "sáng đi, tối về" cũng đặc biệt phù hợp với những người cao tuổi chưa cần chăm sóc tập trung nhưng đã bắt đầu gặp khó khăn trong sinh hoạt hoặc có nhu cầu giao lưu, vận động và theo dõi sức khỏe. Tuy nhiên, để các điểm chăm sóc hoạt động hiệu quả, theo bà Yến, cần có ba yếu tố quan trọng:
Một là nhân lực: Chăm sóc người cao tuổi không phải chỉ là cho ăn, uống hoặc hỗ trợ vệ sinh. Người chăm sóc cần có kiến thức về sức khỏe người cao tuổi, dinh dưỡng, phòng ngừa té ngã, phục hồi chức năng, chăm sóc các bệnh mạn tính và sức khỏe tinh thần. Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định sự tham gia của nhân viên chuyên môn tại trạm y tế cấp xã, cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thôn bản, nhân viên công tác xã hội và tình nguyện viên; đồng thời yêu cầu tập huấn, hướng dẫn về chăm sóc người cao tuổi.
Hai là địa điểm và điều kiện cơ sở vật chất: Không nhất thiết phải đầu tư những công trình rất lớn. Có thể tận dụng cơ sở vật chất sẵn có tại địa phương nhưng phải bảo đảm an toàn, thuận tiện và phù hợp với người cao tuổi.
Ba là cơ chế vận hành và tài chính: Nếu chỉ có mô hình nhưng không có nguồn lực duy trì, nhân lực và cơ chế phối hợp thì rất khó phát triển bền vững.
Bên cạnh nhân lực chuyên nghiệp, một lực lượng rất quan trọng khác là những người đang trực tiếp chăm sóc người cao tuổi tại gia đình. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, phụ nữ chiếm gần 70% số người chăm sóc người cao tuổi trong gia đình.
"Chúng ta cần nhìn nhận công việc chăm sóc trong gia đình một cách đầy đủ hơn. Nếu thiếu các dịch vụ hỗ trợ, gánh nặng chăm sóc có thể khiến phụ nữ phải giảm thời gian làm việc, thậm chí rời khỏi thị trường lao động, ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống", bà Yến nhận định.
Thực tế cho thấy, phát triển dịch vụ chăm sóc dài hạn còn liên quan trực tiếp đến an sinh xã hội, bình đẳng giới và chất lượng cuộc sống của các gia đình.
Về lâu dài, Việt Nam cần từng bước xây dựng thị trường dịch vụ chăm sóc người cao tuổi với nhiều loại hình và mức chi phí khác nhau, phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Những nhóm yếu thế cần có chính sách hỗ trợ để không bị bỏ lại phía sau.
Cùng với đó, cần nghiên cứu các cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn, nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng tiêu chuẩn đối với cơ sở chăm sóc và ưu tiên đào tạo, thu hút nhân lực trong lĩnh vực lão khoa, chăm sóc xã hội.
Nam Nguyên
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
8 ngày trước
11 ngày trước
16 ngày trước
17 ngày trước
17 ngày trước
18 ngày trước
18 ngày trước
19 ngày trước
19 ngày trước
23 ngày trước
5 phút trước
18 phút trước
5 phút trước
10 phút trước
14 phút trước
16 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
31 phút trước
31 phút trước