Xuất khẩu thủy sản tăng hai chữ số, Trung Quốc và Hoa Kỳ dẫn dắt đà phục hồi

Doanh nghiệp Việt Nam chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu. Ảnh: Vũ Sinh–TTXVN
Qua đó, góp phần quan trọng đưa tăng trưởng xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt mức hai con số. Bên cạnh sự gia tăng về kim ngạch, cơ cấu sản phẩm và thị trường cũng cho thấy những chuyển dịch theo hướng đa dạng hơn, dù ngành vẫn đối mặt với nhiều thách thức về chi phí logistics, rào cản kỹ thuật và sức ép cạnh tranh.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), tháng 6/2026 xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này phản ánh sự cải thiện của nhu cầu tại nhiều thị trường nhập khẩu; trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc tiếp tục duy trì đà bứt phá, Hoa Kỳ ghi nhận tín hiệu phục hồi rõ nét; trong khi EU, Nhật Bản và khu vực Trung Đông nhìn chung ít biến động.
Đây cũng là tháng ghi nhận mức tăng trưởng khá đồng đều ở hầu hết các nhóm hàng chủ lực. Tôm tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt với kim ngạch 445,9 triệu USD, tăng 20,7%. Cá tra đạt 209,1 triệu USD, tăng 7,7%, trong khi nhóm cá các loại khác đạt 198,8 triệu USD, tăng 19,8%.
Đáng chú ý, một số nhóm hải sản có mức tăng trưởng rất cao. Xuất khẩu cá ngừ đạt 85,9 triệu USD, tăng 28%; mực, bạch tuộc đạt 77,9 triệu USD, tăng 26,5%; cua, ghẹ và giáp xác khác đạt 45,3 triệu USD, tăng tới 55,1%. Nhuyễn thể có vỏ là nhóm tăng mạnh nhất, đạt 31,3 triệu USD, tăng 77,8% so với cùng kỳ.
Về thị trường, Trung Quốc (bao gồm Hong Kong) tiếp tục là điểm sáng với kim ngạch 256,6 triệu USD, tăng 32,2%. Đặc biệt, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 195,3 triệu USD, tăng tới 48,3%, cho thấy sự phục hồi của các đơn hàng sau thời gian trầm lắng. Trong khi đó, xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 150,2 triệu USD, tăng nhẹ 0,3%; EU đạt 101,5 triệu USD, tăng 6,3%; Hàn Quốc đạt 88,3 triệu USD, tăng 29,5% và ASEAN đạt 69,4 triệu USD, tăng 16,5%.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản cả nước đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu mặt hàng, tôm tiếp tục giữ vị trí số một với kim ngạch đạt 2,3 tỷ USD sau 6 tháng, tăng 13,6% và chiếm khoảng 40,5% giá trị xuất khẩu thủy sản.
Động lực tăng trưởng của tôm chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc, đặc biệt đối với các sản phẩm tôm sú, tôm hùm, tôm đông lạnh và các dòng sản phẩm phục vụ phân khúc nhà hàng, tiêu dùng cao cấp.
Ngược lại tại Hoa Kỳ, ngành tôm vẫn chịu sức ép cạnh tranh lớn từ Ecuador, Indonesia, Ấn Độ cùng các nguồn cung có lợi thế về giá thành, quy mô sản xuất và nguồn nguyên liệu. Đồng thời, các quy định về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, Chương trình giám sát nhập khẩu thủy sản (SIMP), Đạo luật Bảo vệ động vật có vú ở biển (MMPA) và yêu cầu truy xuất nguồn gốc tiếp tục làm gia tăng chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp.
Cá tra giữ vai trò trụ cột thứ hai với kim ngạch 1,1 tỷ USD, tăng 12,1%, chiếm 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu trong nửa đầu năm 2026. Kết quả này phản ánh nhu cầu ổn định đối với dòng cá thịt trắng có giá hợp lý trong bối cảnh người tiêu dùng tại nhiều thị trường có xu hướng tiết kiệm chi tiêu.
Cá tra Việt Nam vẫn duy trì lợi thế về giá, nguồn cung dồi dào và khả năng chế biến linh hoạt, phù hợp với nhiều kênh tiêu thụ từ bán lẻ đến nhà hàng, bếp ăn công nghiệp và chế biến lại. Tuy vậy, ngành cũng chịu áp lực từ giá nguyên liệu, chi phí thức ăn, logistics cũng như các chương trình rà soát tại thị trường Hoa Kỳ.
Nhóm các loại cá khác cũng mang về 1,1 tỷ USD trong 6 tháng, tăng 12%, chiếm khoảng 19,3% tổng kim ngạch, cho thấy cơ cấu xuất khẩu ngày càng đa dạng. Tuy nhiên, các sản phẩm cá biển và hải sản khai thác vẫn đối mặt với yêu cầu nghiêm ngặt về khai thác hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và các quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) từ EU cũng như các quy định của MMPA tại Hoa Kỳ.
Cá ngừ là nhóm hàng có diễn biến trái chiều, dù xuất khẩu trong tháng 6 tăng mạnh, nhưng lũy kế 6 tháng mới đạt 452,7 triệu USD, giảm 2%. Điều này cho thấy tín hiệu phục hồi trong tháng 6 vẫn chưa đủ bù đắp mức sụt giảm của các tháng trước. Sức mua chậm, giá nguyên liệu, chi phí chế biến cùng các yêu cầu ngày càng cao về khai thác bền vững tiếp tục ảnh hưởng đến ngành hàng này.
Trong khi đó, các nhóm hải sản tiếp tục là điểm sáng. Mực, bạch tuộc mang về 380,2 triệu USD, tăng 18,8%, nhờ nhu cầu tích cực từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc. Cua, ghẹ và giáp xác khác đạt 206,2 triệu USD, tăng 26,2%. Nhuyễn thể có vỏ đạt 155,3 triệu USD, tăng 33,1%, nhuyễn thể khác tuy chỉ đạt 6,1 triệu USD nhưng tăng tới 84,4%, cho thấy dư địa mở rộng của nhóm sản phẩm có quy mô còn nhỏ.
Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cho rằng, tăng trưởng xuất khẩu trong nửa đầu năm không chỉ đến từ sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng mà còn phản ánh khả năng điều chỉnh thị trường, cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời khai thác hiệu quả hơn các thị trường có lợi thế về khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển và nhu cầu tiêu dùng ổn định.
“Trong bối cảnh các nhà nhập khẩu ngày càng thận trọng, đơn hàng có xu hướng chia nhỏ, thời gian giao hàng ngắn hơn, yêu cầu cạnh tranh về giá cao hơn và siết chặt các tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận cũng như thời gian giao hàng, kết quả tăng trưởng của ngành cho thấy năng lực thích ứng của doanh nghiệp xuất khẩu đang từng bước được cải thiện”, bà Lê Hằng phân tích.
Xét theo thị trường, Trung Quốc (bao gồm Hong Kong) tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam trong nửa đầu năm với kim ngạch 1,5 tỷ USD, tăng 37,9%, chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây cũng là thị trường tạo động lực tăng trưởng rõ nét nhất đối với các mặt hàng như tôm, cá tra, tôm hùm, nhuyễn thể, thủy sản sống và đông lạnh.
Tính chung 6 tháng, xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kỳ đạt 897,9 triệu USD, gần như tương đương cùng kỳ năm trước. Mặc dù tháng 6 ghi nhận mức tăng mạnh, nhưng kết quả cả 6 tháng cho thấy nhu cầu chung của Hoa Kỳ vẫn chưa thực sự bền vững.
Các yếu tố như tồn kho, sức mua thận trọng, cạnh tranh về giá, chính sách thuế quan và các rào cản kỹ thuật tiếp tục khiến doanh nghiệp phải duy trì sự thận trọng khi khai thác thị trường này.
Xuất khẩu vào Nhật Bản đạt 787,5 triệu USD, tăng 0,7%, tiếp tục là thị trường quan trọng đối với các sản phẩm tôm, mực, bạch tuộc, cá ngừ, surimi và thủy sản chế biến, dù sức mua vẫn tăng chậm do chi phí thực phẩm cao và đồng yên yếu. Đối với EU, kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đạt 536,7 triệu USD, giảm nhẹ 0,8%.
Thẻ vàng IUU cùng các yêu cầu kiểm soát chứng nhận khai thác tiếp tục là những rào cản lớn đối với nhóm hải sản khai thác. Xuất khẩu sang Trung Đông đạt 166,6 triệu USD, giảm 0,1%, cho thấy thị trường này vẫn còn nhiều tiềm năng nhưng chưa tạo được đột phá trong nửa đầu năm.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 419,4 triệu USD, tăng 9%; ASEAN đạt 380,2 triệu USD, tăng 15,8%; nhóm các thị trường khác đạt 1,1 tỷ USD, tăng 17,1%. Những kết quả này cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường đang phát huy hiệu quả, khi các thị trường gần, có nhu cầu ổn định và ít biến động về chính sách thương mại đang góp phần bù đắp sự tăng trưởng chậm tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản.
Bên cạnh những tín hiệu tích cực về thị trường, chi phí logistics tiếp tục là thách thức lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. Theo các doanh nghiệp, cước vận tải container quốc tế đang tiến gần mức cao nhất trong gần hai năm, trong bối cảnh nhu cầu đặt chỗ tăng mạnh từ các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ do lo ngại các mức thuế mới. Điều này khiến mùa nhập khẩu cuối năm đến sớm hơn, làm gia tăng áp lực lên thị trường vận tải biển.
Ngành thủy sản phụ thuộc lớn vào container lạnh và yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ, lịch tàu và thời gian giao hàng. Do đó mọi biến động về cước vận tải, phụ phí nhiên liệu, bảo hiểm, tình trạng thiếu container hay tắc nghẽn cảng đều tác động trực tiếp đến giá thành và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt trên các tuyến đi Hoa Kỳ và EU.
Theo Vasep, kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm tạo nền tảng thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số của xuất khẩu thủy sản năm 2026.
Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trong nửa cuối năm, ngành cần tiếp tục phát huy lợi thế tại các thị trường tăng trưởng tốt như Trung Quốc, ASEAN và Hàn Quốc, đồng thời củng cố khả năng tuân thủ các yêu cầu tại Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Song song đó doanh nghiệp phải kiểm soát chi phí đầu vào, logistics, gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và nâng cao năng lực quản trị rủi ro, nhằm thích ứng với bối cảnh thị trường biến động liên tục.
Xuân Anh/vnanet.vn
3 giờ trước
5 ngày trước
8 ngày trước
9 ngày trước
13 ngày trước
19 ngày trước
25 ngày trước
26 ngày trước
1 giờ trước
54 phút trước
15 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
10 phút trước
21 phút trước
23 phút trước
29 phút trước