🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xăng E10: Cơ sở thực tiễn cho một quyết sách chuyển đổi

2 giờ trước
Việc đưa xăng sinh học E10 vào sử dụng trên toàn quốc từ ngày 01/6 đánh dấu thêm một bước tiến trong quá trình chuyển đổi năng lượng của Việt Nam. Những đánh giá từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và giới chuyên gia cho thấy loại nhiên liệu này không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển xanh, bảo đảm an ninh năng lượng mà còn phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng thích ứng của phần lớn phương tiện đang lưu hành.

Việc phát triển nhiên liệu sinh học là chủ trương đã được Việt Nam định hướng từ nhiều năm trước. Ảnh: ST

Động lực từ tăng trưởng xanh và tự chủ năng lượng

Chia sẻ tại Tọa đàm “Sử dụng xăng E10 có đáng lo?” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức chiều 01/6, ông Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương - cho biết, việc phát triển nhiên liệu sinh học là chủ trương đã được Việt Nam định hướng từ nhiều năm trước.

Ngay từ năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg về Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025. Tiếp đó, Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg đã quy định lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với xăng truyền thống.

Thực hiện lộ trình này, từ cuối năm 2015, xăng E5 được phân phối trên phạm vi cả nước; đến đầu năm 2018, xăng E5 RON92 thay thế hoàn toàn xăng RON92. Tuy nhiên, việc triển khai E10 chưa được thực hiện theo kế hoạch ban đầu.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, Bộ Công Thương đã xây dựng lộ trình nhiên liệu sinh học mới từ cuối năm 2024.

Đáng chú ý, quá trình xây dựng chính sách không chỉ dựa trên mục tiêu môi trường mà còn được thực hiện trên cơ sở đánh giá thực tiễn triển khai các chính sách trước đây, khảo sát thị trường, tham vấn các nhà khoa học, doanh nghiệp và hiệp hội sản xuất ô tô, xe máy.

“Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiên liệu sinh học đáp ứng các mục tiêu về môi trường, an ninh năng lượng và an toàn đối với các phương tiện đang lưu hành” - ông Đào Duy Anh cho biết.

Theo ông Đào Duy Anh, phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ góp phần giảm phát thải CO₂ mà còn thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp, nâng cao khả năng tự chủ năng lượng và giảm thiểu rủi ro từ những biến động của thị trường nhiên liệu thế giới.

Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam - cho biết, hiện có khoảng 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 97% dân số thế giới, đang sử dụng xăng sinh học. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ sử dụng E10 đạt tới 98%; nhiều quốc gia châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan và Australia đã phổ biến loại nhiên liệu này. Ngay cả Nhật Bản, quốc gia nổi tiếng thận trọng trong các quyết sách kỹ thuật, cũng đặt mục tiêu sử dụng E10 từ năm 2027.

“Như vậy, tại những khu vực và các quốc gia phổ biến trên thế giới, hầu hết E10 đã trở thành xăng tiêu chuẩn” - ông Tuấn nhấn mạnh.

Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam - ông Bùi Ngọc Bảo - đánh giá, việc chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học E10 từ ngày 01/6 là bước đi đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, khác với nhiều lần chuyển đổi nhiên liệu trước đây vốn mang tính bị động do thay đổi nguồn cung hoặc yêu cầu quốc tế.

Ông Bảo cho biết, Việt Nam từng trải qua nhiều đợt chuyển đổi lớn như chuyển từ tiêu chuẩn nhiên liệu GOST của Liên Xô cũ sang tiêu chuẩn ASTM, chuyển từ xăng có chì sang xăng không chì, và thay thế xăng RON 92 bằng xăng E5 từ năm 2018. Mỗi lần chuyển đổi đều xuất hiện những băn khoăn nhất định, song thực tế đã chứng minh đây là những bước đi cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển.

Khác với các giai đoạn trước, lộ trình phát triển xăng sinh học lần này được triển khai một cách chủ động, trên cơ sở đánh giá đầy đủ về nguồn lực trong nước, năng lực sản xuất của các nhà máy lọc dầu, khả năng phát triển vùng nguyên liệu ethanol và mục tiêu giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

“Việc sử dụng E10 không chỉ góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà còn tạo thêm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn” - ông Bảo nhấn mạnh.

Quang cảnh Tọa đàm. Ảnh: CP

Những căn cứ thực tiễn

Bên cạnh các mục tiêu về môi trường và an ninh năng lượng, khả năng tương thích của phương tiện là một trong những vấn đề được người dân quan tâm nhất khi chuyển đổi sang sử dụng xăng E10.

Theo ông Lỗ Hải Nam - Trưởng Ban Kỹ thuật Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), tâm lý thận trọng trước một loại nhiên liệu mới là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, kết quả đánh giá của VAMM cho thấy phần lớn các dòng xe máy hiện đang được sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam đều có thể sử dụng xăng E10.

“Dựa trên đánh giá của VAMM cùng với các nghiên cứu mà Hiệp hội đã thực hiện, có thể khẳng định hầu hết các loại sản phẩm xe mô tô, xe gắn máy hiện nay VAMM đang sản xuất và kinh doanh đều có thể đáp ứng được việc sử dụng xăng E10” - ông Nam thông tin.

Đối với những dòng xe có niên đại sử dụng lâu năm, đại diện VAMM khuyến nghị người dân tham khảo thông tin từ nhà sản xuất hoặc các kênh chăm sóc khách hàng để được tư vấn về loại nhiên liệu phù hợp.

Ở góc độ nghiên cứu, PGS,TS. Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội - cho rằng không nên quá lo ngại về khả năng tương thích vật liệu hay độ bền động cơ khi sử dụng E10. Loại nhiên liệu này đã được sử dụng trên thế giới từ những năm 1980. Riêng tại Thái Lan, E10 đã được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 2000 đến nay.

“Sự tương thích ở đây cũng nên được hiểu rằng các chi tiết khi sử dụng xăng khoáng, sau một thời gian cũng sẽ có sự suy giảm về mặt chất lượng. Vậy thì tác động của xăng E10 cũng tương đương, tương tự như khi sử dụng xăng thuần khoáng. Như vậy, chúng ta cũng không nên lo ngại về ảnh hưởng đến độ bền” - ông Tuyến lý giải.

Kết quả thử nghiệm trên một số mẫu ô tô và xe máy đời cũ cho thấy tác động của E10 về cơ bản tương đương với xăng khoáng, trong đó có những mẫu xe sản xuất trước năm 2000 vẫn vận hành ổn định.

Liên quan đến lo ngại về mức tiêu hao nhiên liệu, ông Lỗ Hải Nam cho biết, E10 có nhiệt trị thấp hơn nên mức tiêu thụ nhiên liệu có thể tăng khoảng 2% để duy trì cùng công suất động cơ. Tuy nhiên, đây là mức chênh lệch rất nhỏ và khó nhận thấy trong quá trình sử dụng thực tế.

Trong khi đó, PGS,TS.Phạm Hữu Tuyến cho hay, mặc dù mật độ năng lượng của E10 thấp hơn khoảng 3 - 4% song hàm lượng oxy trong ethanol lại giúp nhiên liệu cháy hoàn toàn hơn, góp phần nâng cao hiệu suất cháy và giảm phát thải các khí độc hại như CO, HC.

Các kết quả thử nghiệm tại Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy công suất động cơ và mức tiêu hao nhiên liệu của phương tiện sử dụng E10 cơ bản tương đương khi sử dụng xăng khoáng.

Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam - ông Bùi Ngọc Bảo - nêu rõ, sau gần 10 năm triển khai E5, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã có đủ cơ sở để khẳng định việc chuyển sang E10 là bước đi an toàn, khả thi và được chuẩn bị kỹ lưỡng.

“Việc sử dụng E10 không chỉ góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà còn tạo thêm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn” - ông Bảo nhấn mạnh.

Những đánh giá từ cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và giới khoa học cho thấy việc triển khai E10 được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, thử nghiệm và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế. Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng cấp thiết, đây được xem là một bước đi có cơ sở thực tiễn, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế./.

HỒNG NHUNG

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ