Việt Nam - Ấn Độ: Đã đến lúc nâng tầm toàn diện quan hệ chiến lược
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (từ ngày 5 đến 7-5-2026), ông Pankaj Pachauri - nhà báo kỳ cựu, nguyên Cố vấn Truyền thông Văn phòng Thủ tướng Ấn Độ - trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội vì sao hai nước cần chuyển từ thiện chí sang hành động ở quy mô chiến lược.

Ông Pankaj Pachauri - nhà báo kỳ cựu, nguyên Cố vấn Truyền thông Văn phòng Thủ tướng Ấn Độ. Ảnh: Kiều Thoan Thu
- Ông đánh giá thế nào về triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ?
Việt Nam - Ấn Độ có mối quan hệ chiến lược quan trọng nhưng chưa được nhìn nhận đầy đủ tại châu Á, được hình thành từ chiều sâu lịch sử và củng cố qua nhiều thập kỷ xây dựng lòng tin chính trị, mang giá trị tinh thần đặc biệt trong ngoại giao quốc tế.
Sự tôn kính chung dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mahatma Gandhi vừa thể hiện sự trân trọng lịch sử vừa phản ánh hành trình tương đồng của hai dân tộc, gắn với đấu tranh chống thực dân, khát vọng tự lực tự cường và mục tiêu phát triển.
Tuy nhiên, dù có nền tảng sâu dày như vậy, hai nước vẫn chưa khai thác hết tiềm năng hợp tác.
Cục diện địa chính trị toàn cầu đang dịch chuyển, trọng tâm kinh tế nghiêng về châu Á, giúp hai nước có thể bổ trợ, định hình lại hợp tác khu vực. Vấn đề đặt ra là có thể biến quyết tâm chính trị thành hành động nhanh đến mức nào.

Hợp tác Việt Nam - Ấn Độ rất sâu rộng từ chính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa. Ảnh: Kiều Thoan Thu
- Ông đánh giá thế nào về cơ sở chính trị của hợp tác song phương hiện nay?
Hợp tác Việt Nam - Ấn Độ hiện bao trùm các lĩnh vực thương mại, quốc phòng, giao lưu văn hóa, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng và an ninh biển. Đặc biệt, tin cậy chính trị đạt mức độ cao. Các thế hệ lãnh đạo hai nước đã vun đắp mối quan hệ này mà không bị chi phối bởi tranh chấp lịch sử hay cạnh tranh ảnh hưởng khu vực.
Hai thập kỷ qua, Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật ở châu Á, thuộc nhóm nền kinh tế năng động và trở thành trung tâm sản xuất quan trọng. Thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 46 lần từ năm 1990, phản ánh chính sách nhất quán và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế.
Đối với Ấn Độ, Việt Nam không chỉ là một đối tác ngoại giao mà còn là cửa ngõ để thúc đẩy hợp tác kinh tế với Đông Nam Á.
- Ông nhìn nhận thế nào về tiềm năng hợp tác kinh tế song phương?
Thương mại hai chiều trên đà tăng trưởng, năm 2025 đạt 16,46 tỷ USD, tăng 10%. Đầu tư của Ấn Độ tại Việt Nam ước khoảng 1,2 tỷ USD với hơn 503 dự án còn hiệu lực. Dù có tiến triển, hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng tiềm năng, khi Ấn Độ là thị trường tiêu dùng lớn và Việt Nam ngày càng nổi bật trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Giao lưu nhân dân giữa Việt Nam và Ấn Độ ngày càng sâu rộng. Ảnh: Kiều Thoan Thu
- Theo ông, Việt Nam có ý nghĩa như thế nào trong chiến lược dài hạn của Ấn Độ?
Chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ (Act East Policy) khó đạt hiệu quả nếu thiếu hội nhập kinh tế sâu hơn với Đông Nam Á, trong đó Việt Nam có vị trí tự nhiên phù hợp.
Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu, mở ra cơ hội để doanh nghiệp Ấn Độ tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực điện tử, dược phẩm, năng lượng tái tạo, logistics và hạ tầng số. Môi trường chính sách ổn định cùng định hướng xuất khẩu cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp Ấn Độ kết nối sâu hơn với mạng lưới sản xuất Đông Á.
Cùng với đó, giao lưu nhân dân gia tăng rõ rệt, thể hiện qua lượng khách du lịch Ấn Độ đến Việt Nam tăng gấp bốn lần sau đại dịch, vượt nửa triệu lượt mỗi năm, nhờ kết nối hàng không thuận lợi và chính sách thị thực cởi mở, qua đó dần chuyển hóa thành cơ hội kinh tế.

Các chương trình như Lễ hội Ấn Độ (India Fair) được tổ chức tại Việt Nam tăng cường sự hiểu biết giữa hai dân tộc. Ảnh: Kiều Thoan Thu
- Yếu tố địa chính trị hiện nay tác động ra sao đến hợp tác giữa hai nước?
Bất ổn tại Tây Á, đặc biệt liên quan đến năng lượng và các tuyến hàng hải, cho thấy mức độ phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế châu Á.
Ấn Độ phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng qua đường biển, trong khi Việt Nam dựa vào thương mại hàng hải. Vì vậy, hai nước có lợi ích chung trong bảo đảm tự do hàng hải, ổn định chuỗi cung ứng và đa dạng hóa nguồn năng lượng.
Việt Nam và Ấn Độ là những đối tác chiến lược tự nhiên, tìm kiếm sự ổn định nhưng không tham gia các liên minh cứng nhắc. Hợp tác quốc phòng, an ninh biển và phối hợp tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có thể tăng khả năng chống chịu kinh tế và góp phần duy trì cân bằng khu vực.
- Theo ông, đâu là trọng tâm hợp tác trong giai đoạn tới?
Dù nền tảng ngoại giao vững chắc, hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng, khi khu vực tư nhân Ấn Độ tham gia vào phát triển tại Việt Nam còn hạn chế so với kỳ vọng chính sách.
Giai đoạn tới cần tăng đầu tư vào sản xuất, thúc đẩy liên doanh trong năng lượng tái tạo và công nghệ số, gắn kết chuỗi cung ứng, đồng thời tăng kết nối giữa cảng biển, hàng không và logistics.
Ấn Độ cần vượt qua cách tiếp cận thuần túy chiến lược hay an ninh, để coi Việt Nam là đối tác kinh tế không thể thiếu trong trật tự châu Á đang hình thành.
Như cựu Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh từng nhận định: “Đã đạt được nhiều điều, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm”.
Khi trọng tâm kinh tế thế giới dịch chuyển từ Tây sang Đông, Việt Nam và Ấn Độ đứng trước cơ hội nâng tầm quan hệ trên nền tảng lòng tin chính trị, bổ trợ kinh tế và đồng thuận chiến lược.
Nền tảng đã sẵn có, vấn đề là hành động kịp thời và đủ quyết tâm để khai thác trọn vẹn tiềm năng hợp tác, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời góp phần vào ổn định, thịnh vượng và cân bằng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Xin chân thành cảm ơn ông!
Kiều Thoan Thu
23 giờ trước
23 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
29 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
10 phút trước
12 phút trước
25 phút trước
29 phút trước
30 phút trước