🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Văn hóa ứng xử – 'tấm danh thiếp' của cá nhân và 'thương hiệu mềm' của tổ chức

2 giờ trước
Văn hóa ứng xử thể hiện qua lời nói, hành vi, thái độ... của mỗi người chúng ta trong cuộc sống. Để trở thành người có văn hóa, chúng ta cần không ngừng tu dưỡng, học tập suốt đời, khiêm tốn lắng nghe lắng nghe trong giao tiếp và xử sự trước mọi tình huống. PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội đã có những chia sẻ sâu sắc liên quan tới văn hóa ứng xử với Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.

Phóng viên (PV): Theo ông, văn hóa ứng xử đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng hình ảnh cá nhân và tổ chức?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng, văn hóa ứng xử, suy cho cùng, là “tấm danh thiếp” bền vững nhất của mỗi con người và cũng là “thương hiệu mềm” có sức lan tỏa sâu xa của một tổ chức. Trong đời sống hiện đại, khi tốc độ giao tiếp ngày càng nhanh và các mối quan hệ ngày càng đa chiều, người ta có thể quên một lời giới thiệu, nhưng rất khó quên một cách cư xử. Một cá nhân có tri thức, có năng lực, nhưng thiếu chuẩn mực trong lời nói và hành vi thì cũng khó tạo dựng được niềm tin lâu dài. Ngược lại, một người biết lắng nghe, biết tôn trọng, biết đặt mình vào vị trí của người khác, sẽ tự nhiên tạo ra thiện cảm, sự tin cậy và uy tín – đó chính là nền tảng của hình ảnh cá nhân.

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội.

Với tổ chức cũng vậy. Văn hóa ứng xử thể hiện ở cách lãnh đạo đối thoại với nhân viên, cách nhân viên phục vụ khách hàng, cách tổ chức phản hồi trước khủng hoảng, và thậm chí là cách im lặng khi cần thiết. Một tổ chức chỉ thật sự lớn mạnh khi có văn hóa, mà văn hóa không phải khẩu hiệu treo tường, mà chính là những quy tắc ứng xử được thực hành hàng ngày. Khi ứng xử văn minh, tử tế trở thành “chuẩn mực sống”, tổ chức sẽ hình thành bản sắc riêng, tạo dựng niềm tin xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tôi cho rằng, trong thời đại hội nhập, văn hóa ứng xử không chỉ là phép lịch sự, mà là năng lực phát triển – bởi nó tạo ra môi trường làm việc lành mạnh, thúc đẩy hợp tác, giảm xung đột và bồi đắp sức mạnh nội sinh cho cả cá nhân lẫn tổ chức.

PV: Thưa ông, trong môi trường làm việc hiện đại, những nguyên tắc ứng xử nào là quan trọng nhất để duy trì sự chuyên nghiệp?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Trong môi trường làm việc hiện đại, tính chuyên nghiệp không chỉ đo bằng năng lực hoàn thành công việc, mà còn thể hiện rất rõ qua cách ứng xử. Tôi cho rằng có một vài nguyên tắc nền tảng cần được coi như “kỷ luật văn hóa” của mỗi người lao động, bất kể vị trí nào.

Thứ nhất là tôn trọng – tôn trọng con người và tôn trọng quy trình. Tôn trọng đồng nghiệp thể hiện ở lời nói đúng mực, thái độ hợp tác, không xúc phạm hay áp đặt. Tôn trọng quy trình thể hiện ở việc làm đúng hạn, đúng chuẩn, không tùy tiện “đốt cháy giai đoạn”, không lấy lý do cá nhân để làm ảnh hưởng đến tập thể. Nhiều môi trường làm việc đổ vỡ không phải vì thiếu tài năng, mà vì thiếu sự tôn trọng.

Nét văn hóa ứng xử văn minh của du khách nước ngoài khi xin phép được chụp tấm hình kỷ niệm.

Thứ hai là trách nhiệm. Người chuyên nghiệp là người dám nhận việc, dám chịu trách nhiệm và dám sửa sai. Trong công việc, đôi khi điều đáng quý nhất không phải là “không mắc lỗi”, mà là thái độ sau lỗi: có né tránh hay đối diện, có đổ lỗi hay cải thiện.

Thứ ba là giao tiếp văn minh và hiệu quả. Giao tiếp không chỉ là nói, mà là biết lắng nghe, biết phản hồi, biết trình bày rõ ràng và đặc biệt là tránh cảm xúc tiêu cực. Những tranh luận trong công việc phải dựa trên lý lẽ, trên dữ liệu, trên mục tiêu chung, chứ không dựa trên cái tôi.

Thứ tư là giữ chữ tín. Một lời hứa đúng hẹn, một phản hồi đúng lúc, một cam kết được thực hiện nghiêm túc – đó là cốt lõi tạo nên uy tín. Và uy tín là loại vốn liếng có giá trị lâu dài nhất trong môi trường làm việc hiện đại.

PV: Ông có thể chia sẻ một tình huống thực tế mà văn hóa ứng xử đã giúp giải quyết xung đột hoặc mâu thuẫn hiệu quả?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Tôi từng chứng kiến một tình huống khá điển hình trong môi trường làm việc, khi hai bộ phận cùng tham gia một dự án nhưng lại nảy sinh mâu thuẫn gay gắt. Bộ phận chuyên môn cho rằng bộ phận truyền thông “làm sai tinh thần nội dung”, còn truyền thông thì cho rằng chuyên môn “khô cứng, thiếu linh hoạt”. Xung đột không nằm ở công việc, mà nằm ở cách mỗi bên cảm nhận mình bị coi thường. Chỉ vài cuộc trao đổi căng thẳng, không khí đã trở nên nặng nề, thậm chí có người đề nghị thay nhân sự.

Trong hoàn cảnh đó, điều khiến mọi việc thay đổi không phải là một mệnh lệnh hành chính, mà là một cách ứng xử có văn hóa. Người phụ trách dự án đã tổ chức một buổi họp ngắn, nhưng mở đầu không phải bằng phê bình, mà bằng sự ghi nhận. Anh ấy nói rất rõ: “Cả hai bên đều đang cố gắng vì sản phẩm tốt nhất. Chúng ta không đối đầu nhau, mà đang cùng đối đầu với áp lực thời gian và chất lượng.” Chỉ một câu ấy đã giúp hạ nhiệt cảm xúc. Sau đó, anh yêu cầu mỗi bên trình bày lại khó khăn của mình, nhưng có nguyên tắc: không công kích, không quy chụp, chỉ nói về việc và đề xuất giải pháp. Khi được lắng nghe, người ta tự nhiên mềm lại.

Bên cạnh đó, dự án được điều chỉnh theo hướng lập một nhóm phối hợp chung, mỗi nội dung đều có “điểm chốt” của chuyên môn và “cách diễn đạt” của truyền thông. Mâu thuẫn được hóa giải không phải bằng ai thắng ai thua, mà bằng việc khôi phục tôn trọng, khôi phục niềm tin. Tôi cho rằng, văn hóa ứng xử chính là “công cụ hòa giải” rất mạnh: biết đặt lợi ích chung lên trên, biết lắng nghe thay vì áp đặt, biết tôn trọng thay vì phủ định nhau. Nhiều xung đột không cần “trọng tài quyền lực”, mà cần một thái độ văn minh.

PV: Những yếu tố nào trong văn hóa truyền thống Việt Nam cần được giữ gìn và phát huy trong ứng xử hiện nay thưa ông?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ văn hóa truyền thống Việt Nam có nhiều giá trị ứng xử rất đẹp, nếu biết giữ gìn và làm mới theo tinh thần thời đại, sẽ trở thành nguồn lực tinh thần quan trọng. Trước hết là tinh thần “kính trên nhường dưới”, coi trọng lễ nghĩa và trật tự trong quan hệ xã hội. Trong xã hội hiện đại, nguyên tắc này không còn hiểu theo nghĩa cứng nhắc hay tôn ti cực đoan, mà nên được hiểu như thái độ biết tôn trọng người khác, nhất là người già, người có kinh nghiệm; đồng thời biết nâng đỡ người trẻ, tạo cơ hội cho thế hệ sau.

Thứ hai là truyền thống “tình nghĩa”, lối sống coi trọng ân tình, trước sau, không vô cảm. Người Việt xưa có thể nghèo vật chất nhưng giàu lòng nhân ái, biết chia sẻ, biết giúp nhau lúc khó khăn. Trong bối cảnh ngày nay, khi xã hội đô thị hóa nhanh, áp lực công việc lớn, mạng xã hội làm con người xa nhau, thì sự tử tế, lòng nhân hậu, sự cảm thông càng trở thành giá trị cần thiết.

Thứ ba là văn hóa “dĩ hòa vi quý”, yêu chuộng hòa khí. Tất nhiên, hòa không có nghĩa là né tránh đúng sai. Nhưng hòa là một thái độ: nói điều cần nói bằng cách đúng mực; giải quyết mâu thuẫn bằng đối thoại; tìm tiếng nói chung thay vì làm tổn thương nhau.

Ngoài ra còn có truyền thống hiếu học và trọng đạo lý. Người có học không chỉ học chữ, mà học làm người. Tôi cho rằng ngày nay chúng ta đang thiếu một điều: học ứng xử như một phần của học vấn. Vì vậy, nếu biết phát huy những giá trị truyền thống ấy trong cơ quan, trong gia đình, trong trường học, thì văn hóa ứng xử sẽ không chỉ là phép lịch sự bên ngoài, mà là cốt cách bên trong.

PV: Làm thế nào để giáo dục và rèn luyện văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thưa ông?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn: Giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hội nhập quốc tế là một nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa lâu dài. Tôi cho rằng muốn làm được điều này, cần kết hợp đồng bộ giữa gia đình – nhà trường – xã hội, nhưng cốt lõi nhất vẫn là nêu gương và tạo môi trường thực hành.

Trước hết, gia đình phải là “trường học ứng xử” đầu tiên. Trẻ em không học ứng xử qua lời dạy suông, mà qua cách cha mẹ nói chuyện với nhau, qua cách người lớn cư xử với hàng xóm, với người yếu thế, với người làm dịch vụ. Nếu gia đình chỉ dạy con “phải lễ phép” nhưng chính người lớn lại thô lỗ ngoài xã hội, thì mọi bài học đều vô hiệu.

Thứ hai, nhà trường phải đưa ứng xử thành một phần của giáo dục nhân cách, không tách rời với tri thức. Không thể chỉ dạy kỹ năng mềm như một môn phụ, mà phải gắn vào mọi hoạt động: học nhóm, tranh luận, thuyết trình, phản biện… để học sinh biết khác biệt mà không công kích, biết thẳng thắn mà không xúc phạm, biết thể hiện mình nhưng vẫn tôn trọng người khác.

Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập, cần giúp người trẻ hiểu rằng: hội nhập không phải hòa tan. Văn hóa ứng xử hiện đại cần sự cởi mở, tôn trọng đa dạng, đúng giờ, minh bạch, tôn trọng quyền riêng tư… nhưng vẫn phải giữ bản sắc Việt Nam: nhân ái, nghĩa tình, khiêm nhường, biết ơn.

Tôi nghĩ mạng xã hội đang là “mặt trận” lớn nhất. Nếu không dạy người trẻ văn hóa ứng xử trên không gian số, thì những điều đẹp đẽ ngoài đời cũng dễ bị xói mòn. Ứng xử văn minh hôm nay phải bắt đầu từ lời bình luận tử tế, từ sự thật, từ việc biết kiềm chế cảm xúc. Đó là bản lĩnh văn hóa của công dân toàn cầu.

PV: Theo ông, thách thức lớn nhất trong việc xây dựng văn hóa ứng xử ở nước ta hiện nay là gì, đâu là những giải pháp thưa ông?

PGS.TS. Bùi Hoài Sơn:Theo tôi, thách thức lớn nhất trong xây dựng văn hóa ứng xử ở nước ta hiện nay nằm ở chỗ: chuẩn mực thì nhiều nhưng thực hành thì yếu. Chúng ta có thể nói rất hay về “văn hóa”, về “tử tế”, về “nếp sống văn minh”, nhưng trong đời sống xã hội, không ít nơi lại chứng kiến sự xuống cấp của cách cư xử: nóng nảy, cực đoan, thiếu tôn trọng, dễ xúc phạm nhau cả ngoài đời lẫn trên mạng. Một phần nguyên nhân là áp lực mưu sinh và nhịp sống gấp gáp; phần khác là sự thiếu kiên nhẫn, thiếu kỹ năng đối thoại; và sâu xa hơn là sự đứt gãy giữa giáo dục giá trị và thực tế xã hội.

Thách thức thứ hai là môi trường số. Mạng xã hội giúp lan tỏa tri thức nhưng cũng làm gia tăng bạo lực ngôn từ. Khi người ta ẩn sau màn hình, chuẩn mực ứng xử dễ bị phá vỡ, và sự cực đoan trở thành “bình thường mới”. Điều này rất nguy hiểm vì nó tạo ra tâm lý chai sạn, vô cảm.

Về giải pháp, theo tôi cần 3 nhóm việc lớn. Một là xây dựng chuẩn mực ứng xử cụ thể theo từng môi trường: công sở, trường học, bệnh viện, không gian công cộng, không gian mạng… để mọi người biết thế nào là đúng – sai, nên – không nên. Hai là đề cao nêu gương: cán bộ, người nổi tiếng, người đứng đầu phải thể hiện văn hóa ứng xử như một trách nhiệm xã hội. Ba là giáo dục và truyền thông bền bỉ: thay vì chỉ phê phán cái xấu, cần tôn vinh cái đẹp, nhân lên những hành vi tử tế thành “sức mạnh mềm” trong đời sống thường nhật.

Tôi tin rằng, văn hóa ứng xử không thể hình thành trong ngày một ngày hai, nhưng nếu kiên trì, chúng ta sẽ tạo dựng được một xã hội văn minh từ những điều nhỏ nhất.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Phụng Thiên (Thực hiện)










Home Icon VỀ TRANG CHỦ