🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Văn hóa phải có vị trí tương xứng trong mục tiêu phát triển

9 giờ trước
Báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dự kiến kế hoạch năm 2027 do Thủ tướng Chính phủ trình tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI cho thấy những nỗ lực lớn nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội. Từ góc nhìn văn hóa, cùng với những kết quả đáng ghi nhận, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các chủ trương quan trọng về phát triển văn hóa được chuyển hóa thành nguồn lực, sản phẩm, giá trị và những thay đổi cụ thể trong đời sống nhân dân.

Khi nói tới phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta thường quan tâm trước hết tới tốc độ tăng trưởng GDP, thu ngân sách, đầu tư, xuất khẩu hoặc năng suất lao động. Đó là những thước đo quan trọng, nhưng chưa thể phản ánh đầy đủ chất lượng phát triển của một quốc gia. Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh cần được nâng đỡ bởi nền tảng tinh thần vững chắc, hệ giá trị lành mạnh, năng lực sáng tạo và sự gắn kết xã hội. Nói cách khác, văn hóa không nằm bên ngoài tiến trình phát triển, mà tham gia định hình chất lượng và tính bền vững của chính tiến trình ấy.

Thời gian qua, nhận thức về vị trí của văn hóa đã có bước tiến quan trọng. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội mở ra những điều kiện mới để đưa các định hướng chiến lược thành cơ chế, chính sách cụ thể. Những chuyển biến về bảo tồn di sản, hoạt động nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa và gắn kết văn hóa với du lịch là rất đáng ghi nhận. Theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, trong năm 2026 đã có thêm 2 di tích quốc gia đặc biệt, 9 di tích quốc gia được xếp hạng; 30 bảo vật quốc gia được công nhận và 12 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục quốc gia. Đằng sau những con số ấy là nỗ lực giữ gìn ký ức, bản sắc và sức sống của cộng đồng.

ĐBQH Bùi Hoài Sơn (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1 (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội). Ảnh: daibieunhandan

Tuy nhiên, có một nghịch lý cần được nhìn nhận thẳng thắn. Báo cáo thẩm tra chỉ ra rằng trong 14 chỉ tiêu thuộc nhóm "về văn hóa, xã hội" của dự kiến kế hoạch năm 2027, chưa có chỉ tiêu nào trực tiếp về văn hóa; trong khi chỉ tiêu "tăng trưởng ngành công nghiệp văn hóa khoảng 10%" được đặt ở nhóm kinh tế nhưng chưa có phương pháp tính cụ thể. Khi vị trí của văn hóa đã được khẳng định trong chủ trương nhưng chưa được thể hiện đầy đủ bằng những chỉ tiêu có thể kiểm chứng, việc tổ chức thực hiện và giám sát sẽ gặp khó khăn.

Bởi vậy, điều cần thiết không phải là bổ sung chỉ tiêu cho đủ số lượng, mà là lựa chọn những thước đo đúng bản chất. Cần có chỉ tiêu về nguồn lực ngân sách dành cho văn hóa; hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở; mức độ người dân tiếp cận, tham gia và thụ hưởng đời sống văn hóa; đồng thời hoàn thiện phương pháp đo lường tăng trưởng và đóng góp giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa. Một ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng không thể chỉ được mô tả bằng vài sự kiện đông người hoặc một số sản phẩm có doanh thu cao. Cần hiểu rõ quy mô thị trường, việc làm sáng tạo, khả năng xuất khẩu sản phẩm và sức lan tỏa tới những ngành kinh tế khác.

Chúng ta không thể quản trị hiệu quả những mục tiêu mà mình chưa có công cụ đo lường. Do đó, việc sớm hoàn thiện Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa và Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nghệ thuật phải được xem là nhiệm vụ nền tảng, chứ không đơn thuần là việc bổ sung một hệ thống báo cáo hành chính.

Tháo gỡ điểm nghẽn để chính sách và nguồn lực đi vào cuộc sống

Một trong những vấn đề đáng suy nghĩ nhất của năm 2026 là khoảng cách giữa quyết tâm chính sách và tiến độ thực hiện. Theo Báo cáo 1243/BC-UBVHXH16 ngày 14/10/2026 của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, trong 9 tháng, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của Bộ VH,TT&DL đạt 34,4%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 62,9% của cả nước. Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa được bố trí 7.600 tỷ đồng năm 2026, nhưng đến ngày 11/6 mới được giao vốn và tính đến ngày 30/9 mới giải ngân được 0,178 tỷ đồng. Đây là những con số cần được phân tích nghiêm túc, trên tinh thần làm rõ nguyên nhân và tìm giải pháp thực chất.

Phối cảnh tổng thể Trung tâm Công nghiệp văn hóa Đồng Xuân - Bắc Qua tại phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ảnh: TTXVN phát

Một chương trình đã được quyết định về chủ trương và nguồn lực nhưng chưa đi vào cuộc sống đúng thời điểm không chỉ tạo ra sự chậm trễ trên sổ sách. Điều đó có thể đồng nghĩa với việc một thiết chế văn hóa chưa được sửa chữa, một di sản chưa được bảo vệ kịp thời, một cộng đồng chưa có thêm không gian sinh hoạt hoặc một cơ hội tạo sinh kế từ giá trị văn hóa chưa được khai mở. Trong phát triển, thời gian cũng là nguồn lực. Để lỡ thời gian, chúng ta có thể đánh mất những cơ hội không dễ lấy lại.

Tuy nhiên, không thể giải quyết bằng yêu cầu đẩy nhanh giải ngân một cách chung chung. Cần xác định điểm nghẽn ở đâu: Văn bản hướng dẫn ban hành chậm, cơ chế quản lý chương trình chưa hoàn thiện, việc giao vốn chưa kịp thời, danh mục dự án chưa sẵn sàng, hoặc năng lực tổ chức thực hiện tại cơ sở còn hạn chế. Việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng đặt ra những yêu cầu mới trong phân công nhiệm vụ, quản lý tài sản công và tổ chức mạng lưới thiết chế văn hóa. Mỗi vướng mắc đòi hỏi một giải pháp, một địa chỉ trách nhiệm và một thời hạn khắc phục rõ ràng.

Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy coi ban hành văn bản là hoàn thành chính sách sang đánh giá chính sách bằng khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng của các chủ thể trong thực tế. Đối với công nghiệp văn hóa, nghệ sĩ, nhà sáng tạo và doanh nghiệp cần những quy định khả thi về quyền tác giả, khai thác tài sản công, hợp tác công - tư, thu hút đầu tư, không gian sáng tạo và phát triển thị trường. Nếu cơ chế thiếu rõ ràng hoặc khó thực hiện, tiềm năng sáng tạo vẫn khó chuyển thành sản phẩm có giá trị. Việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, trong đó có dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, cần đặt trọng tâm vào tháo gỡ những vướng mắc cụ thể thay vì chỉ dừng ở nguyên tắc khuyến khích.

Cùng với yêu cầu sử dụng vốn đúng tiến độ, phải đặt hiệu quả dài hạn lên hàng đầu. Một nhà văn hóa được xây dựng khang trang nhưng ít hoạt động chưa chắc đáp ứng nhu cầu cộng đồng bằng một thư viện, bảo tàng, công viên hoặc không gian công cộng được tổ chức linh hoạt, hấp dẫn và phục vụ thường xuyên. Chất lượng đầu tư văn hóa không thể chỉ đo bằng khối lượng xây lắp, mà còn phải được đánh giá bằng tần suất sử dụng, khả năng duy trì hoạt động và những giá trị mang lại cho người dân.

Khơi dậy sức mạnh văn hóa, con người để phát triển nhanh và bền vững

Điểm đáng mừng là những năm gần đây, giá trị kinh tế của văn hóa ngày càng bộc lộ rõ. Di sản, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực và sản phẩm sáng tạo số không chỉ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần mà còn tạo việc làm, thúc đẩy du lịch, thương mại và quảng bá hình ảnh đất nước. Trong 9 tháng đầu năm 2026, theo báo cáo thẩm tra, Việt Nam đón khoảng 17,68 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Nhưng để biến tăng trưởng lượng khách thành phát triển bền vững, cần quan tâm hơn đến mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng trải nghiệm và phần giá trị được giữ lại cho cộng đồng.

Du khách quốc tế trải nghiệm tại bản làng Thái Hải, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Thu Hằng - TTXVN

Một di sản chỉ thật sự sống lâu bền khi người dân nhận thấy mình vừa là chủ thể gìn giữ, vừa là người được hưởng lợi chính đáng từ di sản. Một điểm đến chỉ có thể nâng cao sức cạnh tranh khi những câu chuyện lịch sử, nghệ thuật, nếp sống và sáng tạo của con người được chuyển thành sản phẩm đặc sắc. Đó cũng là lý do phải gắn chính sách bảo tồn với phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và sinh kế bền vững, nhưng không thương mại hóa bằng mọi giá hoặc làm tổn hại đến tính chân thực, giá trị văn hóa.

Từ thực tiễn Thủ đô Hà Nội có thể thấy, những di sản lịch sử, không gian sáng tạo, bảo tàng, phố đi bộ và hoạt động nghệ thuật chứa đựng tiềm năng rất lớn để tạo thêm giá trị cho đời sống đô thị. Song điều quan trọng không chỉ là tạo thêm những điểm đến hấp dẫn, mà còn bảo đảm người dân ở trung tâm và ngoại thành đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ văn hóa có chất lượng. Phát triển văn hóa sẽ thiếu bền vững nếu thành quả chỉ tập trung ở một số không gian, một số nhóm công chúng hoặc một vài thời điểm lễ hội.

Một nhiệm vụ không kém phần cấp thiết là chăm lo xây dựng môi trường văn hóa trong không gian số. Báo cáo thẩm tra ghi nhận những kết quả trong quản lý nội dung vi phạm trên nền tảng xuyên biên giới, đồng thời cảnh báo tình trạng tin giả, quảng cáo vi phạm và nội dung độc hại tiếp tục phức tạp. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, muốn tạo lập môi trường số lành mạnh, chúng ta không chỉ cần cơ chế xử lý sai phạm, mà còn phải nâng cao năng lực văn hóa số của người dân, đặc biệt là trẻ em và thanh niên; khuyến khích sản xuất nội dung tích cực, có chất lượng; bảo vệ quyền sáng tạo và tăng cường trách nhiệm của các nền tảng.

Ở chiều sâu hơn, phát triển văn hóa chính là phát triển con người. Một thế hệ trẻ biết trân trọng lịch sử, có năng lực cảm thụ nghệ thuật, tư duy độc lập, tinh thần trách nhiệm, khả năng sáng tạo và kỹ năng sử dụng công nghệ có văn hóa sẽ là nguồn lực quý báu cho đất nước. Vì vậy, cần gắn đầu tư văn hóa với giáo dục nghệ thuật, phát triển nhân lực sáng tạo, xây dựng gia đình, cộng đồng và môi trường xã hội nhân văn. Những kết quả ấy khó thể hiện ngay trên bảng cân đối kinh tế, nhưng quyết định sức mạnh nội sinh và khả năng chống chịu của quốc gia trước những biến động lâu dài.

Từ Báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, có thể thấy yêu cầu phát triển nhanh đang đặt ra rất nhiều nhiệm vụ lớn. Chính vì thế, phát triển văn hóa càng không thể bị xem như phần việc làm sau khi đã hoàn thành các mục tiêu kinh tế. Cần đưa văn hóa vào hệ thống chỉ tiêu quốc gia bằng những thước đo phù hợp; tháo gỡ sự chậm trễ trong thực thi thể chế và sử dụng nguồn lực; đồng thời đánh giá kết quả phát triển bằng cả giá trị kinh tế lẫn sự tiến bộ trong đời sống tinh thần của nhân dân.

Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 80-NQ/TW phải được chuyển thành hành động cụ thể: Từ khẳng định vai trò văn hóa sang bảo đảm các điều kiện để văn hóa phát huy vai trò; từ bố trí nguồn lực sang sử dụng hiệu quả nguồn lực; từ tổ chức các hoạt động văn hóa sang bồi đắp năng lực sáng tạo, bản sắc và chất lượng sống. Khi đó, văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển mà thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực cho một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

"Một ngành công nghiệp văn hóa tăng trưởng không thể chỉ được mô tả bằng vài sự kiện đông người hoặc một số sản phẩm có doanh thu cao. Cần hiểu rõ quy mô thị trường, việc làm sáng tạo, khả năng xuất khẩu sản phẩm và sức lan tỏa tới những ngành kinh tế khác" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn

TIN LIÊN QUAN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ