Vaccine ung thư: Từ công nghệ mRNA đến hy vọng điều trị trong tương lai
Trong bối cảnh ung thư vẫn là thách thức lớn của y học hiện đại, vaccine ung thư đang nổi lên như một hướng đi đầy triển vọng của y học chính xác và y học dự phòng thế hệ mới. Trao đổi với phóng viên, TS. Đỗ Tuấn Đạt - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Vaccine và Sinh phẩm Y tế số 1 (Vabiotech), đã phân tích những tiến bộ khoa học nổi bật, cơ hội ứng dụng tại Việt Nam cũng như những kỳ vọng thực tế đối với vaccine ung thư trong chiến lược phòng ngừa và điều trị bệnh trong tương lai.
Phóng viên (PV): Thưa TS. Đỗ Tuấn Đạt, trong nhiều năm qua vaccine đã tạo nên những bước tiến lớn trong phòng bệnh truyền nhiễm. Vậy với ung thư, một nhóm bệnh phức tạp, không phải do virus, khái niệm vaccine ung thư cần được hiểu như thế nào cho đúng?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Vaccine ung thư được hiểu giống như tất cả các vaccine khác, đó là các chế phẩm có nguồn gốc từ vi sinh vật hoặc từ vật liệu sinh học được làm mất khả năng gây bệnh nhưng vẫn có khả năng kích thích sự hình thành miễn dịch đặc hiệu để phòng hoặc điều trị bệnh. Điểm khác biệt chủ yếu giữa vaccine ung thư với các vaccine phòng các bệnh truyền nhiễm đã được dùng phổ biến trước đây, đó là đặc tính kháng nguyên đích. Kháng nguyên để phát triển vaccine ung thư có nguồn gốc từ chính khối u gây ung thư và được chia thành kháng nguyên liên quan đến khối u (kháng nguyên tự biểu hiện quá mức, kháng nguyên dòng mầm hay kháng nguyên mô biệt hóa) và kháng nguyên đặc hiệu khối u (các kháng nguyên virus gây khối u hoặc các tân kháng nguyên - neoantigen).

TS. Đỗ Tuấn Đạt - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Vaccine và Sinh phẩm Y tế số 1 (Vabiotech),
PV: Ông đánh giá ra sao về xu hướng nghiên cứu và phát triển vaccine ung thư trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các công nghệ như mRNA, vaccine cá nhân hóa hay vaccine neoantigen?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Vaccine ung thư hiện được chia thành hai loại chính, vaccine phòng bệnh và vaccine điều trị. Các công nghệ chính được sử dụng trong vaccine ung thư là vaccine tổng hợp peptide, vaccine virus, vaccine tế bào và vaccine acid nucleic (DNA và RNA). Các vaccine dựa trên kháng nguyên liên quan đến khối u thường được dùng chung cho nhiều bệnh nhân mắc cùng một loại ung thư. Trong khi đó, các vaccine dựa trên các tân kháng nguyên (neoantigen) thường đặc hiệu cho khối u ở từng cá thể nên hướng đến các vaccine cá nhân hóa.
PV:Dựa trên kinh nghiệm sản xuất vaccine và năng lực công nghệ hiện có, nước ta đang có những lợi thế và hạn chế gì nếu muốn phát triển vaccine điều trị ung thư?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Việt Nam có lợi thế là đã có nguồn nhân lực và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu phát triển sản phẩm, sản xuất và triển khai sử dụng các vaccine phòng các bệnh truyền nhiễm trong nước. Tuy nhiên, hiện năng lực để có thể sớm tiếp cận với các công nghệ sản xuất vaccine mới (vaccine DNA, RNA, vector virus) còn nhiều hạn chế do các công nghệ để sản xuất vaccine trước đây đều là các công nghệ sản xuất cổ điển (vaccine bất hoạt và vaccine sống giảm độc lực). Hiện còn thiếu các nguồn lực và kinh nghiệm để triển khai đánh giá tiền lâm sàng và lâm sàng các vaccine mới, đặc biệt là các vaccine được sử dụng với mục đích điều trị, các đánh giá và theo dõi lâm sàng trên từng cá thể bệnh nhân.
PV: Trong những nền tảng vaccine hiện nay (mRNA, vector virus, peptide, DNA), theo ông đâu là hướng phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam và có khả năng ứng dụng sớm?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Vaccine ung thư chú trọng đến việc tạo ra đáp ứng miễn dịch tế bào - đáp ứng của tế bào T hiệu quả để tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều này khá khác biệt so với các vaccine sử dụng các công nghệ cổ điển trước đây với mục đích phòng bệnh là tạo ra đáp ứng miễn dịch dịch thể để trung hòa hoặc tạo phức hợp kháng nguyên - kháng thể với các tác nhân gây bệnh, từ đó tiêu diệt các tác nhân này. Các công nghệ mới như mRNA và vector virus hiện sẽ là các lựa chọn chính trong phát triển vaccine ung thư do đã có các minh chứng rõ rệt về việc tạo ra các đáp ứng miễn dịch cả dịch thể lẫn tế bào mạnh mẽ trong vaccine phòng đại dịch COVID-19. Đây cũng là các xu hướng công nghệ mới nên lựa chọn để cho ra đời sớm các vaccine ung thư có khả năng ứng dụng cao tại Việt Nam trong tương lai.
PV: Những thử nghiệm lâm sàng nổi bật nào trên thế giới đang cho thấy tín hiệu khả quan về vaccine ung thư, như giảm nguy cơ tái phát hoặc kéo dài thời gian sống cho người bệnh?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Ngoài các vaccine phòng bệnh ung thư đã được thương mại hóa như vaccine phòng HPV hay vaccine phòng viêm gan B, một số vaccine ung thư với mục đích điều trị cũng đã được ứng dụng trên lâm sàng như vaccine lao - BCG trong điều trị ung thư bàng quang, vaccine Sipuleucel sử dụng công nghệ tế bào đuôi gai (DC) trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Các nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III hiện nay với một số vaccine mRNA hoặc vaccine vector virus cũng đang cho thấy triển vọng cho điều trị các loại ung thư như: ung thư hắc tố, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư nguyên bào thần kinh đệm hay ung thư đại trực tràng.
PV: Rào cản lớn nhất khiến vaccine ung thư khó đi vào thực hành lâm sàng rộng rãi hiện nay là gì - công nghệ, chi phí, nhân lực hay dữ liệu khoa học?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Nghiên cứu và phát triển vaccine ung thư cho dù đã có tiến bộ, tuy nhiên hiện vẫn còn rất nhiều thách thức trong các ứng dụng lâm sàng.
Tính không đồng nhất về đặc tính khối u ở các bệnh nhân mắc cùng một loại hay ngay cả trên cùng một bệnh nhân đã làm phức tạp hóa việc thiết kế vaccine do kháng nguyên tế bào ung thư biểu hiện ở nhiều cấp độ khác biệt nhau.
Thêm vào đó, khối u đã sử dụng các chiến lược để tấn công hệ miễn dịch như giảm biểu hiện kháng nguyên hay tăng các phân tử chốt kiểm soát miễn dịch (PD-L1) hoặc tạo ra vi môi trường khối u (TME) ức chế miễn dịch từ đó làm hạn chế đáp ứng miễn dịch và tăng tính kháng của khối u.
Do vậy, thiết kế một vaccine ung thư cần phối hợp nhiều chiến lược và công nghệ khác nhau để vượt qua các thách thức ảnh hưởng đến hiệu lực của vaccine. Kết quả đánh giá lâm sàng vẫn là tiêu chí chính quyết định hiệu quả của vaccine, nhưng đến hiện nay vẫn chưa có được các tiêu chuẩn đủ mạnh và chuẩn hóa để xác định đúng hiệu quả của vaccine ung thư trên lâm sàng. Đồng thời, giá thành để sản xuất các vaccine ung thư cá thể hóa còn cao làm hạn chế các ứng dụng trên lâm sàng một cách rộng rãi.
Và cuối cùng, đó là vấn đề nguồn nhân lực đủ mạnh và có khả năng phối kết hợp nhiều lĩnh vực khác nhau từ nhà nghiên cứu, nhà sản xuất đến các bác sĩ lâm sàng cũng như các người xét nghiệm trong phòng thí nghiệm.

Các nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III hiện nay với một số vaccine mRNA hoặc vaccine vector virus cho thấy triển vọng cho điều trị các loại ung thư.
PV: Ông nhận định thế nào về tương lai của vaccine ung thư: Liệu có thể trở thành một liệu pháp điều trị tiêu chuẩn, hay chỉ phù hợp với một số nhóm bệnh nhân nhất định?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Vaccine sử dụng các tân kháng nguyên và vaccine mRNA đã dần hướng đến ngày càng nhiều các ứng dụng trên lâm sàng và cho các kết quả khả quan trên các bệnh nhân ung thư. Các nghiên cứu được tiến hành để phối hợp vaccine ung thư với các liệu pháp điều trị ung thư khác, đặc biệt là các liệu pháp miễn dịch trị liệu như thuốc ức chế chốt kiểm soát miễn dịch (ICI) cũng đã cho nhiều kết quả hứa hẹn. Các công nghệ tiên tiến như giải trình tự tế bào đơn, phân tích hình ảnh có độ phân giải cao và cả AI đã đem lại các hiểu biết sâu sắc hơn về kháng nguyên ung thư và TME từ đó đưa ra cách nhìn mới về tương tác giữa vaccine và tế bào ung thư.
Ứng dụng các công nghệ tiềm năng này sẽ giúp tối ưu thiết kế vaccine nhằm hướng đích chính xác vào tế bào ung thư, đồng thời tăng cường đáp ứng miễn dịch. Vaccine ung thư đang cần tiếp tục được hoàn thiện nên nhiều công nghệ về tế bào, gene, protein, chất bổ trợ, hệ thống vận chuyển và các liệu pháp phối hợp điều trị để có thể trở thành một liều pháp điều trị tiêu chuẩn. Tuy nhiên, chúng ta có thể lạc quan rằng với các tiến bộ hiện nay sẽ sớm có thêm nhiều thế hệ vaccine ung thư mới đem lại lợi ích cho nhiều bệnh nhân ung thư.
PV: Ông muốn gửi gắm điều gì tới cộng đồng và các bệnh nhân ung thư về kỳ vọng vào thế hệ vaccine mới và sự phát triển của công nghệ y sinh Việt Nam?
TS. Đỗ Tuấn Đạt: Công nghệ sẽ giúp thay đổi cuộc sống. Với việc ứng dụng các công nghệ mới hiện nay cả đơn ngành lẫn đa ngành đã làm thay đổi nhiều mặt trong đời sống của con người, trong đó có lĩnh vực sức khỏe. Vaccine ung thư cũng không nằm ngoài quy luật chung đó.
Các thành tựu nghiên cứu về ung thư, miễn dịch trị liệu ung thư, phát triển các nền tảng công nghệ sinh học mới hứa hẹn sẽ sớm đem lại các kết quả ứng dụng hiệu quả trên bệnh nhân ung thư. Với việc xem công nghệ y sinh là công nghệ chiến lược cũng như các ứng dụng cụ thể như vaccine, tế bào gốc hay trị liệu gene là các sản phẩm chiến lược đã cho thấy Chính phủ rất ủng hộ cho việc phát triển thế hệ vaccine mới cũng như sự phát triển chung của công nghệ y sinh tại Việt Nam. Điều này sẽ thúc đẩy các nhà khoa học Việt Nam sớm tiếp cận với các công nghệ mới và nhanh chóng cho ra đời các sản phẩm vaccine có hiệu quả cao phục vụ cho bệnh nhân ung thư.
PV: Xin trân trọng cảm ơn TS. Đỗ Tuấn Đạt!
Nguyễn Hạnh (thực hiện)
1 ngày trước
9 phút trước
2 giờ trước
4 phút trước
15 phút trước
1 phút trước
21 phút trước
24 phút trước
51 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước