🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tuổi đôi mươi gửi trọn cho Tổ quốc

1 giờ trước
Những đám cỏ xanh mọc trên các các hố bom năm xưa song Bến phà Long Đại mãi là 'địa chỉ đỏ' giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước, khát vọng cống hiến cho các thế hệ hôm nay, mai sau.

Bia tưởng niệm 16 thanh niên xung phong Đại đội C130 đã anh dũng hy sinh tại Khu di tích lịch sử Bến phà 2 Long Đại. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Nếu Thành cổ Quảng Trị ghi dấu 81 ngày đêm đỏ lửa, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải là chứng tích chia cắt đau thương và khát vọng thống nhất thì Bến phà Long Đại (xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cũ, nay là xã Trường Ninh, tỉnh Quảng Trị) là minh chứng bi tráng cho ý chí kiên cường “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lực lượng thanh niên xung phong, góp phần giữ vững huyết mạch giao thông chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Nơi đó ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 16 cán bộ, chiến sỹ thanh niên xung phong Đại đội C130 quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên) trong hai trận bom ngày 19 và 23/9/1972.

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, những vết thương chiến tranh đã được xoa dịu, những đám cỏ xanh mọc trên các hố bom năm xưa song Bến phà Long Đại mãi là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước, khát vọng cống hiến cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Nhằm tri ân sự hy sinh của 16 anh hùng liệt sỹ và kỷ niệm 76 năm Ngày truyền thống lực lượng thanh niên xung phong (15/7/1950-15/7/2026), 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam thực hiện chùm bài viết chủ đề "16 người con quê lúa hóa bản hùng ca Bến phà Long Đại" như nén hương thơm gửi tới các anh hùng liệt sỹ, thanh niên xung phong đã “Sống bám cầu, bám đường-Chết kiên cường, dũng cảm.”

Bom đạn đã lùi xa nhưng với những cựu thanh niên xung phong Đại đội C130, Long Đại chưa bao giờ là câu chuyện của quá khứ. Mỗi lần trở lại bến phà xưa, ký ức về 16 đồng đội ngã xuống trong những ngày tháng 9/1972 lại hiện lên nguyên vẹn.

Mảnh đất từng oằn mình vì “mưa bom, bão đạn” nay khoác lên sức sống mới nhưng sâu thẳm là biết bao máu xương của những chàng trai, cô gái tuổi mười tám đôi mươi đã gửi trọn tuổi xuân cho Tổ quốc.

Giữ mạch máu giao thông trên “tọa độ lửa”

Bến phà Long Đại 1 và Long Đại 2 năm xưa nay được thay thế bằng các công trình cầu trên Quốc lộ 15, tuyến đường sắt Bắc-Nam và đường bộ cao tốc Bắc-Nam, bảo đảm giao thông thông suốt trên tuyến huyết mạch. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Ở tuổi gần 80, những năm tháng nơi Bến phà Long Đại luôn là phần ký ức không thể nào quên với cựu thanh niên xung phong Nguyễn Văn Tự (thôn Nam Sơn, xã Vũ Ninh, tỉnh Thái Bình cũ, nay là xã Vũ Quý, tỉnh Hưng Yên).

Trong căn nhà nhỏ, ông gìn giữ cẩn thận từng tấm ảnh, trang tư liệu về Đại đội C130 như những báu vật của cuộc đời. Mỗi lần lật giở cuốn album đã ngả màu thời gian, ông được trở về những năm tháng tuổi đôi mươi “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai.”

Đúng 55 năm trước, tháng 4/1971, chàng trai Nguyễn Văn Tự khi ấy mới 23 tuổi cùng 134 thanh niên xung phong quê huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình cũ) hăng hái lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc. Sau khi tập trung tại Nam Định, họ hành quân bằng đường bộ vào Quảng Bình-nơi được xem là một trong những chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ và được biên chế về Đại đội C130, Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 571, Đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn) làm nhiệm vụ mở đường, bảo đảm giao thông trên tuyến đường Trường Sơn.

Thoáng nhíu mày rồi hướng mắt ra phía xa tìm về những hình ảnh xưa, ông Nguyễn Văn Tự nói: “Tất cả đều xác định đã ra đi là để cống hiến hết mình. Chúng tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là giữ cho đường thông, phà thông để xe vào được chiến trường.”

Nhắc về những ngày tháng hào hùng ấy, lật giở thêm cuốn album kỷ niệm, cựu thanh niên xung phong Nguyễn Văn Tự không giấu nổi niềm xúc động. Chỉ tay nhẹ vào bức ảnh úa màu thời gian, ông cho biết, đó là các anh, chị: Nguyễn Ngọc Báu (xã Nam Bình cũ), Đoàn Văn Bình (xã Nam Cao cũ), Đinh Thị Thắng (xã Vũ Thắng cũ)… những người tuổi 20 đã mãi nằm lại bên dòng Long Đại bi hùng-minh chứng cho tinh thần quả cảm vì Tổ quốc của thế hệ thanh niên thời bấy giờ.

Ông kể lại, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Long Đại nằm trên tuyến đường 15-con đường huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam. Đây là điểm vượt sông đặc biệt quan trọng trước khi lương thực, vũ khí, khí tài và lực lượng được tiếp tục vận chuyển theo hệ thống đường Trường Sơn vào các chiến trường.

Xác định đây là mục tiêu chiến lược, Mỹ huy động lực lượng tập trung đánh phá. Hàng vạn tấn bom cùng hàng nghìn quả đạn pháo liên tiếp trút xuống khúc sông nhỏ, biến Long Đại thành một trong những “tọa độ lửa” ác liệt nhất trên dải đất Quảng Bình cũ (nay thuộc tỉnh Quảng Trị). Mặt đất bị cày xới ngày đêm, hố bom nối tiếp hố bom, khói lửa chưa kịp tan, những đợt không kích mới lại ập đến.

Để giảm tổn thất và bảo đảm tuyến giao thông chi viện huyết mạch, đầu năm 1971, Bến phà Long Đại được chia thành hai nhánh gồm Phà 1 gần cầu và Phà 2 cách khoảng 500 m về phía hạ lưu. Khi một Đại đội thanh niên xung phong tỉnh Nghệ An bị tổn thất nặng nề sau trận bom rải thảm của địch vào tháng 6/1972, những chàng trai, cô gái thuộc Đại đội C130 quê Kiến Xương được điều động từ đường 10 vào thay thế, giữ mạch chi viện.

Những ngày ở Long Đại là ký ức khắc sâu trong tâm trí ông. Công việc của ông và đồng đội là san lấp hố bom, sửa đường, vận chuyển lương thực, khí tài, bảo đảm từng chuyến phà qua sông an toàn. Những chiếc phà khi ấy chỉ là các mảng bè nổi ghép lại, di chuyển bằng dây cáp, người kéo, người đẩy giữa làn bom đạn.

Bom vừa ngớt, bất chấp khói bụi còn mù mịt, những chàng trai, cô gái trẻ thuộc Đại đội C130 lại từ hầm trú ẩn chữ A, lao ngay ra mặt đường với khí thế và quyết tâm cao nhất. Người xúc đất, người vá đường, người đưa xe, đưa hàng xuống phà vượt sông. Họ làm việc cả ngày lẫn đêm với một quyết tâm duy nhất: Không để "mạch máu" giao thông bị gián đoạn.

Ngày 19/9/1972, ông Nguyễn Văn Tự cùng đồng đội đang vận chuyển lương thực, hàng hóa tại bờ Bắc Bến phà Long Đại 2 thì quân Mỹ bất ngờ trút bom đánh phá. “Tôi nghe một tiếng nổ long trời. Khói đen cuồn cuộn bốc lên, cả dòng sông như rung chuyển. Khi tỉnh lại, tôi mới biết mình bị một mảnh sắt găm vào đầu,” ông nghẹn ngào nhớ lại.

Ông cho biết, ngay trên dòng Long Đại hôm ấy, ba đồng đội là anh Trương Thế Hưng (quê xã An Bình), anh Vũ Văn Kiêm (xã Quốc Tuấn) và anh Vũ Văn Nam (xã Nam Bình) đã anh dũng hy sinh. Sức công phá của bom khiến thân thể các anh không còn nguyên vẹn, máu hòa vào dòng nước đang cuộn chảy… Ở trên bờ, hầm trú ẩn của Đại đội C130 cũng bị bom đánh trúng trực tiếp, 12 thanh niên xung phong quê hương Kiến Xương mãi mãi nằm lại, có người chưa kịp gặp mặt con thơ nơi quê nhà, có người còn dang dở lá thư gửi người yêu dấu…

Nỗi đau mất mát 15 đồng đội, đồng hương chưa nguôi, ngày 23/9/1972 thêm một trận bom nữa khiến thanh niên xung phong Trần Mạnh Hà (quê xã Thanh Tân) hy sinh. Chỉ trong 4 ngày, tại chiến địa Bến phà Long Đại, Đại đội C130 đã mất đi 16 thanh niên xung phong cùng quê Kiến Xương (gồm 7 nữ và 9 nam). Người lớn tuổi nhất là anh Vũ Văn Bối (quê ở xã Hồng Thái) hy sinh khi 35 tuổi, người trẻ nhất là anh Trần Xuân Bòng (quê ở xã Quốc Tuấn) hy sinh khi mới tròn 17 tuổi.

Những hy sinh hóa thành bất tử

Bến phà 2 Long Đại - nơi ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 16 thanh niên xung phong Đại đội C130-đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, mỗi lần nhắc đến ngày 19/9/1972, cựu thanh niên xung phong Vũ Văn Thiện vẫn không giấu được những giọt nước mắt. Ông nhớ như in thời khắc sau làn mưa bom, trước mắt những người còn sống chỉ còn là một bãi đất tan hoang với hố bom chằng chịt.

Ông xúc động kể lại: “Không ai bảo ai, những người sống sót lập tức lao đi tìm đồng đội. Người dùng xẻng, người dùng cuốc, người không có gì thì dùng chính đôi bàn tay trần cào từng lớp đất. Bàn tay rớm máu nhưng không ai dừng lại, bởi trong lòng chúng tôi chỉ có mong muốn duy nhất là tìm được đồng đội một cách nhanh nhất.”

Câu chuyện càng đi sâu, mỗi mảnh ghép của trận chiến năm ấy như lần lượt hiện về, kéo theo những cảm xúc vẫn còn nguyên vẹn trong lòng người cựu binh. “Tôi nhớ nhất là khi đến cửa hầm chữ A, thấy chị Ngô Thị Đông, người xã Nam Bình nằm đó. Mái tóc dài vẫn còn bê bết máu...,” ông Thiện nghẹn giọng.

Chính ông đã đưa nữ đồng đội cùng quê về nơi tập kết. Rồi từng người, từng người nữa được đưa về. Mười hai thi thể nằm dài trên bãi đất trống. Không ai cầm được nước mắt. Bao đau đớn, thương tiếc như dồn nén đến tận cùng, nghẹn nơi cuống họng rồi vỡ òa thành tiếng nấc. Tiếng khóc quyện cùng tiếng gió, tiếng sóng, lặng lẽ lan đi giữa không gian còn ám đặc mùi bom của kẻ thù.

Ngày hôm sau, ông Thiện tiếp tục cùng đồng đội dọc theo dòng Long Đại tìm kiếm ba đồng chí hy sinh dưới sông là Trương Thế Hưng, Vũ Văn Kiêm và Vũ Văn Nam. Dù biết có thể chỉ còn những phần thân thể sót lại sau sức công phá của bom đạn, họ vẫn không từ bỏ hy vọng.

Trong trí nhớ của những cựu thanh niên xung phong Đại đội C130, câu chuyện tình của liệt sỹ Ngô Thị Đông và liệt sỹ Bùi Năng Đắc đến nay vẫn được nhắc nhớ như biểu tượng đẹp của tình yêu thời chiến.

Những vần thơ trong bài Trở về của liệt sĩ Bùi Năng Đắc được khắc trên bia đá tại Khu di tích lịch sử Bến phà 2 Long Đại. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Trong cuốn nhật ký “Tiếng hát Trường Sơn”, liệt sỹ Bùi Năng Đắc từng viết những dòng thơ mộc mạc đề ngày 10/11/1971 về cô gái cùng quê mình gặp giữa Trường Sơn. “Lên Trường Sơn xẻ núi mở đường/Gặp em con gái quê hương/Tóc xanh phảng phất mùi hương ruộng đồng/Ôi đôi má em hồng lên vì nắng/ Đôi mắt nhìn như xuyên thẳng vào tim/Ôi nụ cười tô thắm tình duyên/Của cô gái đồng chiêm mười tấn.” Những câu thơ dung dị ấy trở thành ký ức còn lại của mối tình chưa kịp đi đến ngày đoàn tụ.

Chiến tranh kết thúc, những người còn sống trở về quê hương mang theo cả ký ức với nỗi đau và niềm tự hào về lòng dũng cảm của Long Đại. Sau ngày xuất ngũ, mối duyên từ Đại đội C130 anh hùng đã kết nối cựu thanh niên xung phong Vũ Văn Thiện và Phạm Thị Hoa nên duyên vợ chồng. Họ dựng xây mái ấm, cùng nuôi dạy bốn người con khôn lớn nhưng ký ức về Bến phà Long Đại vẫn là vết hằn sâu nhất trong cuộc đời.

Còn với ông Nguyễn Văn Tự, nỗi day dứt với đồng đội chưa bao giờ nguôi ngoai. Năm 1974 trở về quê hương, ông xây dựng gia đình và tham gia công tác tại xã. Do hoàn cảnh cuộc sống nên tới hơn 20 năm sau ngày đồng đội hy sinh, năm 1995 ông mới có thể thực hiện tâm nguyện của mình là thành lập Hội đồng ngũ Đại đội C130 huyện Kiến Xương. Suốt gần một năm, ông rong ruổi đạp xe khắp các xã tìm lại thông tin đồng đội. Người còn, người mất, người lưu lạc nhiều nơi nhưng mỗi cuộc gặp lại đều khiến cựu thanh niên xung phong năm xưa rưng rưng xúc động về năm tháng sống, chiến đấu gian khổ song rất đỗi tự hào.

Năm 2011, sau gần 40 năm đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, ông Nguyễn Văn Tự mới có dịp trở lại chiến trường xưa. Đứng lặng bên dòng Long Đại hiền hòa, nước trong xanh, ông không khỏi nghẹn ngào.

Những hố bom năm xưa đã được phủ kín bởi màu xanh của cỏ cây, công trình xây dựng. Long Đại hôm nay bình yên như bao miền quê. Nhưng khác, ở đó là dấu ấn lịch sử không thể nào lãng quên về những năm tháng chiến tranh khốc liệt và sự hy sinh oai hùng của các thế hệ người Việt đi trước. Để từ đó, mỗi người hôm nay càng thêm trân trọng giá trị của hòa bình, tri ân những người đã ngã xuống và giữ mãi ngọn lửa Long Đại-niềm kiêu hãnh của một thế hệ hi sinh xương máu cho Tổ quốc quyết sinh./.

Mời độc giả theo dõi bài tiếp theo:

Bài 2: Tiếp nối mạch nguồn tri ân

(TTXVN/Vietnam+)

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ