🔍
Chuyên mục: Tình yêu - Hôn nhân

'Tung hỏa mù' - trong đời sống, văn chương!

1 giờ trước
Theo nghĩa đen, 'tung hỏa mù' là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Đời Chiến Quốc, nước Ngụy và nước Tề mâu thuẫn. Biết Bàng Quyên tướng nước Ngụy sắp hạ được nước Hàn, tướng Tề là Tôn Tẫn phao tin sẽ tấn công nước Ngụy. Nghe tin nguy cấp, Bàng Quyên rút quân về cứu Ngụy. Thế là hỏng một việc lớn. Khi Bàng Quyên truy kích quân Tề, Tôn Tẫn lại dùng kế "giảm bếp".

Đếm số lượng bếp ăn, Bàng Quyên ước đoán ngày đầu quân Tề có mười vạn. Ngày thứ hai đếm bếp, Bàng Quyên đoán Tề còn năm vạn. Đến ngày thứ ba ước còn ba vạn. Đắc ý cho rằng quân Tề thối chí, trong ba ngày mà lính đào thoát quá nửa, Bàng Quyên quyết ngày đêm truy đuổi, liền rơi vào bẫy…

Hình ảnh Khổng Minh ngồi xe lăn ra trận cũng là một cách "tung hỏa mù"!

Có "giảm" thì cũng có "tăng". Thời Tam quốc, Khổng Minh cầm quân phạt Ngụy… Hậu chúa nhà Thục nghe lời gièm pha nghi Khổng Minh làm phản, liền giáng chiếu triệu Khổng Minh rút quân về. Ngậm đắng nuốt cay, đang ở thế có lợi, Khổng Minh đành chia quân làm 5 tốp rút dần. Cứ ngày ngày rút bớt quân, lại đào thêm bếp.

Nghe tin quân Thục có biến, Tư Mã Ý nửa tin nửa ngờ, thân đem hơn trăm kỵ binh đến trại Thục quan sát, thấy số bếp ngày một nhiều hơn. Mã Ý bảo các tướng: Gia Cát lập mẹo giả lui, dụ địch… Khổng Minh yên ổn rút quân về Thành Đô. Hú vía. Nếu Mã Ý cho quân truy kích thì bất lợi vô cùng.

Trong "Tam quốc diễn nghĩa" có biết bao là chuyện "tung hoa mù" để lừa đối phương. Là kế "Giương Đông kích Tây", vờ đánh hướng này, thực chất đánh hướng khác; "Chỉ tang mạ hòe" (Chỉ cây dâu, mắng cây hòe), nhằm hướng này nhưng đánh hướng kia (như kiểu khẩu ngữ Việt: "Chỉ chó mắng mèo", "Lườm rau gắp thịt"); "Phao chuyên dẫn ngọc" (ném gạch để đưa ngọc đến), đưa ra miếng nhỏ, để dụ nhằm tới cái lợi lớn hơn…

Những chuyện hư hư thực thực thể hiện mưu kế, tài trí ghê gớm ấy cứ mê dụ người đọc đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đấy là một nét thi pháp để "Tam quốc diễn nghĩa" trở thành một trong "tứ đại kỳ thư" của Trung Hoa cổ, cũng là một trong những "quyển sách lớn" của nhân loại.

"Tung hỏa mù" vẫn được dùng ở thời hiện đại. Như kiểu "lộng giả thành chân" (biến giả thành thật) được Hitler áp dụng vào "tâm lý chiến": "Lời nói dối lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành sự thực". Bằng thủ đoạn này, bộ máy tuyên truyền Đức Quốc xã đã kéo cả nước Đức và một số đồng minh vào cuộc chiến.

Chiến dịch tung hỏa mù thành công nhất của Đức Quốc xã trong Thế chiến 2 là khiến phương Tây tin rằng đội quân của Hitler đang tích trữ vũ khí và 100.000 binh sĩ tại khu vực núi Alps ở miền Nam nước Đức (giáp với Áo), nhằm xây dựng thành trì cuối cùng vào mùa xuân 1945. Tin này khiến giới lãnh đạo Anh, Mỹ "mất ăn mất ngủ", vì lo ngại nước Đức sẽ kéo dài cuộc chiến nhiều năm.

Trong cuộc chạy đua vũ trang (những năm 1960), Liên Xô (cũ) đã thể hiện "Sức mạnh không giới hạn", "vượt trội" Mỹ. Năm 1965, tại Quảng trường Đỏ, một cuộc duyệt binh rầm rộ được tổ chức với các tên lửa khổng lồ mang đầu đạn hạt nhân "hủy diệt". Liên Xô tuyên truyền, đây là "một thắng lợi vẻ vang về công nghệ quân sự". Nước Mỹ "tái mặt"… Mãi sau này, phía Mỹ mới biết, đó chỉ những "mô hình" mà đối phương dựng ra. Nhưng cũng thừa nhận đã làm giới chóp bu Mỹ "đứng ngồi không yên".

Ngày nay, trong thời buổi công nghệ số phát triển, "tung hỏa mù" càng có cơ hội phát triển. Ví như trong bán hàng, giá bán không phải 10.000 VNĐ, mà chỉ 9.900 VNĐ. Đây là chiêu trò tạo ảo giác người mua: Rẻ đấy, mua đi! Thuật ngữ "điểm mù số" ra đời, cho biết tâm lý người mua sắm, ở đâu cũng vậy, đều thích rẻ và thích nhận được kèm theo một cái gì đó "miễn phí"… Thế là, ở đâu cũng vậy, xuất hiện các chương trình "miễn phí" rầm rộ.

Cuộc duyệt binh tại Quảng trường Đỏ năm 1965.

Ngoài đời có, hẳn nhiên có trong văn chương, nhiều hơn cả trong văn học kịch hay trào phúng. Như bài ca dao "Thằng Bờm", là một câu chuyện có nhân vật, có tình huống, tình tiết, có kịch tính cao trào, có kết thúc. Đây là kết cấu đặc trưng của truyện cười dân gian: sử dụng hình thức tăng cấp và kết thúc bất ngờ, đột ngột.

Dân gian "tung hỏa mù" để người đọc "hồi hộp": bắt đầu chỉ là "cái quạt mo", phú ông đòi đổi "ba bò chín trâu", rồi "ao sâu cá mè", đến "ba bè gỗ lim" đến "bầy chim đồi mồi". Cuối cùng kết thúc đột ngột: là "nắm xôi". "Nắm xôi" chỉ "ngang giá" với "cái quạt mo". Tiếng cười bật ra từ cái "ngang giá" ấy. Câu chuyện vui vẻ, nhân vật cười, bạn đọc cười. Những nụ cười dân chủ. Thế nên khép lại là hình ảnh "Bờm cười". Ý vị và đa nghĩa.

Có dị bản viết "đôi chim đồi mồi" thì không đúng với tinh thần "tung hỏa mù" của hình thức tăng cấp tạo kịch tính. Phải là "bầy chim đồi mồi". "Chim đồi mồi" là gì? Là chim giả khắc bằng đồi mồi - con vật quý sống ngoài biển, nên "chim đồi mồi" là biểu tượng cho sự quý phái của nhà giàu thời trước. Có cả một "bầy chim đồi mồi" thì phải thật giàu sang rồi! Những "đòi đổi" trước chỉ mang giá trị vật chất, đến "bầy chim đồi mồi" là cả vật chất và tinh thần, tức cao nhất.

Tại sao lại gọi "thằng Bờm"? Có một cách hiểu: ngày xưa trẻ trai thường cạo đầu, để chừa lại một chòm tóc phía trên trán gần giữa đỉnh đầu, để che thóp, tránh gió. Chòm tóc này giống như bờm ngựa nên dân gian gọi vui là "thằng bờm". Từ này đi vào văn hóa Việt mang tính nước đôi, chỉ những người ít tuổi, ngờ nghệch, khờ khạo nhưng cũng lém lỉnh, tinh ranh, nghịch ngợm (như trẻ con vậy!). Thế nên hiểu "Bờm" khờ khạo, ngờ nghệch, "trẻ người non dạ" mới chỉ là một phương diện tính cách mà thôi.

Bước vào sân khấu dân gian, nhất là rối nước, "Bờm" trở thành "chú Tễu". "Lưỡng tính" (cũng là một dạng "hỏa mù"), nên "thằng Bờm" trở thành "biểu tượng hai mặt", vừa đáng yêu vừa đáng ghét, vừa khôn vừa dại, vừa trí tuệ, dí dỏm vừa ngờ nghệch, ngốc nghếch. Trong thế giới truyện dân gian, nhân vật phú ông cũng "lưỡng tính" như vậy, không chỉ bủn xỉn, keo kiệt, ác bá mà còn là hào phóng, xởi lởi, tốt bụng...

Trong văn học viết trước 1945, người "tung hỏa mù" giỏi nhất là Nguyễn Công Hoan. Nhờ "chiêu độc" này, truyện của ông hấp dẫn, độc giả thích thú đi theo cái "bịa như thật". Mở đầu truyện “Đồng hào có ma” là lời "công kích": "Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực, ở đời này, bao nhiêu những anh béo, khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả".

Độc giả băn khoăn và có phần hoang mang bởi mâu thuẫn: ăn uống phải sạch sẽ là đúng rồi. Tại sao những anh béo khỏe lại "ăn bẩn"? Để "lý giải" về cái nghịch lý mâu thuẫn này, là câu chuyện sau…

Kể rằng "con mẹ Nuôi" lên quan trình báo việc mất trộm. Để đến cửa quan, bà ta chạy vạy vay mượn một đồng hai hào. Ở cổng quan, phải hối lộ cho cậu lính lệ hai hào để nhờ anh ta vào bẩm quan. Trước mặt quan, bà ta lúng túng đánh rơi tiền, năm đồng hào rơi xuống đất, tung tóe. Tìm mãi mới được bốn đồng hào... Không đủ tiền trình quan, mụ đành lủi thủi quay ra. Chờ "con mẹ" nhà quê khốn khổ đi khuất, quan huyện đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giày, thò tay nhặt đồng hào, bỏ tọt vào túi. Thì ra quan xử việc ăn trộm, lại chính là kẻ trộm "lành nghề" nhất. Như là một thói quen…

Truyện "Oẳn tà roằn" là màn hài kịch về chuyện cô Nguyệt vào "nhà thương". Màn kịch "hỏa mù" thứ nhất là lời căn vặn về "cậu cháu" của bà đỡ hỏi Nguyệt - người đi đẻ: "- Thưa, cậu cháu tên là Nguyễn Văn Tình, đã mất năm ngoái, sau khi tôi có mang được vài tháng".

Màn kịch tiếp theo là cảnh các công tử đến thăm "người yêu" đẻ, cũng là để "xem mặt" con mình. Hai công tử đầu tiên vừa vào đã vội lỉnh ra, vừa đi vừa bưng miệng, rúc rích nhìn nhau cười, thì thào: "- Hú vía! Tao tưởng con Nguyệt nó chửa với tao, tao sợ quá!". Đến lượt Phong. Đến lượt Bắc. Ai đến cũng ra rất nhanh, mặt mũi ai cũng khó đăm đăm, rất bí hiểm…

Cuối truyện "màn hỏa mù" mới được "vén lên": "Té ra thằng bé con chàng mà nước da lại đen như cái cột nhà cháy! Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó là giống "Oẳn tà roằn". Thì ra con Nguyệt là người… Tây đen!

Như vậy, trong văn chương, "tung hỏa mù" cũng là một nghệ thuật. Vấn đề ở chỗ có hợp với logic truyện không, có thuận lý với người đọc không. Xin mời bạn cho ý kiến!

Nguyễn Thanh Tú









Home Icon VỀ TRANG CHỦ