Tự lực hay lệ thuộc?
Hai chiến lược song hành: nội địa hóa và đa dạng hóa
Chỉ hai tuần sau khi Mỹ và Israel bắt đầu tấn công Iran, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã kích hoạt đợt giải phóng dự trữ dầu khẩn cấp lên tới 400 triệu thùng để trấn an thị trường toàn cầu. Đây là phản ứng quốc tế lớn nhất trong lịch sử, nhận được sự đồng thuận nhanh chóng sau khi thế giới đã chứng kiến những cú sốc năng lượng liên tiếp trong những năm gần đây. Nhưng chính Giám đốc điều hành IEA, ông Fatih Birol cũng phải thừa nhận đây là "cuộc khủng hoảng an ninh năng lượng lớn nhất mà thế giới từng đối mặt" và "thế giới khó có thể duy trì tốc độ xả kho thêm một chu kỳ 6 tháng nữa". Điều đó cho thấy, bất chấp đã có sự chuẩn bị, chúng ta không thể dựa mãi vào nguồn năng lượng dự trữ của người khác. Tình thế này buộc các chính phủ phải thay đổi mô hình năng lượng của mình, khi các nguồn cung bị tắc nghẽn, lựa chọn tất nhiên là phải phát huy sức mạnh tự thân.

Đảm bảo an ninh năng lượng là một chiến lược lâu dài, cần nguồn đầu tư khổng lồ
Nhưng năng lượng luôn là một ngành đắt đỏ, do đó nội địa hóa an ninh năng lượng không đồng nghĩa với khép kín hoàn toàn trước hợp tác quốc tế. Bất chấp những tuyên bố mạnh mẽ, thực tế hầu hết các quốc gia đều phải duy trì hai chiến lược song hành là vừa nội địa hóa năng lực sản xuất trong nước, vừa đa dạng hóa nguồn cung ở mức tối đa để không phụ thuộc vào một đối tác hay một tuyến đường duy nhất. Nhưng khi đa dạng hóa nguồn cung, tình trạng "tranh mua" vô tình đã cuốn tất cả vào một cuộc đua về giá không hồi kết và cuộc khủng hoảng Hormuz càng kích hoạt mạnh mẽ hơn cho chiến lược nội địa hóa.
Những báo cáo đã chứng minh cho nhận định này khi nguồn nhiên liệu được trao đổi phổ biến nhất là dầu mỏ đang dần bị thu hẹp tầm ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. IEA đã dự báo đầu tư cho dầu mỏ sẽ giảm năm thứ ba liên tiếp, xuống dưới 500 tỷ USD, bất chấp nhu cầu năng lượng vẫn gia tăng nhanh chóng. Để lấp đầy khoảng trống, một số quốc gia quay sang sử dụng khí đốt, than đá và năng lượng tái tạo để thay thế dầu mỏ ở những nhu cầu có thể hoán đổi được.
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ước tính dòng vốn đổ vào ngành năng lượng toàn cầu sẽ lập kỷ lục mới lên tới 3.400 tỷ USD trong năm 2026, với xu hướng ngày càng tập trung vào năng lực sản xuất trong nước thay vì các tuyến cung ứng xuyên lục địa dễ tổn thương.
Nguồn lực có sẵn được tận dụng tối đa
Chiến lược thực dụng nhất là tận dụng triệt để các nguồn lực sẵn có, kể cả khi điều đó đồng nghĩa với việc phải đánh đổi một số cam kết đã đưa ra trước đây. Đức và Nhật Bản là hai ví dụ điển hình khi cả hai đã tái khởi động và kéo dài thời gian sử dụng các nhà máy điện hạt nhân, dù quyết định này vi phạm lộ trình giảm điện hạt nhân mà chính họ từng đặt ra sau thảm họa Fukushima. Đây là một sự đảo chiều chính sách đáng chú ý, cho thấy khi an ninh năng lượng trở thành vấn đề sống còn, ngay cả những cam kết chính trị tưởng chừng bất di bất dịch cũng có thể bị xét lại. Một loạt nước châu Âu cùng với Mỹ và Trung Quốc cũng đã gia tăng sử dụng các nhà máy điện than kể từ sau năm 2022 bất chấp những cam kết về bảo vệ môi trường theo Công ước Paris trước đây.
Song song đó, nhiều quốc gia đang đẩy mạnh mở rộng quy mô sản xuất điện từ chính tài nguyên bản địa của mình như nắng, gió, địa nhiệt thông qua các chính sách ưu đãi thuế và trợ giá nhằm khuyến khích dòng vốn đầu tư đổ vào. Những thành công là không thể phủ nhận. Ấn Độ đã nâng công suất điện mặt trời lên gấp 10 lần chỉ trong một thập kỷ. Kenya, bằng cách khai thác triệt để lợi thế địa nhiệt tự nhiên của mình cũng đã tăng gấp 3 lần tỷ lệ dân số được tiếp cận lưới điện. Ireland phát triển điện gió ngoài khơi tới mức đủ sức chiếm 40% tổng công suất tiêu thụ toàn quốc. Điểm chung của cả ba trường hợp này là thay vì chờ đợi một giải pháp công nghệ hoàn hảo hay một đối tác quốc tế đáng tin cậy, các quốc gia đã chọn cách biến chính lợi thế địa lý tự nhiên của mình thành chiến lược an ninh năng lượng dài hạn.
Gia tăng bảo hộ
Với các quốc gia có nguồn lực đầu tư lớn, chiến lược được lựa chọn tham vọng hơn. Họ không chỉ muốn sản xuất năng lượng tại chỗ, mà còn đưa cả chuỗi sản xuất những mặt hàng thiết yếu phục vụ ngành năng lượng về trong nước. Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) của Mỹ và Đạo luật Công nghiệp Phát thải ròng bằng 0 (NZIA) của Liên minh châu Âu mới được thông qua đều hướng đến cùng một mục tiêu: đưa các khâu sản xuất pin, pin mặt trời, turbine gió và công nghệ thu gom carbon về trong nước hoặc trong khối liên minh, nhằm phục vụ trực tiếp cho hạ tầng điện hóa của chính mình. Về bản chất, đây là những chính sách quay đầu bảo hộ của các nước giàu trước sức cạnh tranh sản xuất từ các nước đang phát triển để tự đảm bảo an ninh năng lượng của mình.

Một vài điểm nghẽn nhỏ đã làm xáo trộn lưu thông năng lượng toàn cầu
Nhưng chiến lược "đưa về trong nước" này đang vấp phải một giới hạn cấu trúc khó vượt qua trong ngắn hạn, đặc biệt với khoáng sản thiết yếu cấu thành sản phẩm. Trung Quốc là nước tinh chế hàng đầu đối với 19/20 loại khoáng sản chiến lược, với thị phần trung bình khoảng 70%. Riêng đất hiếm, nguyên liệu làm nam châm vĩnh cửu cho động cơ điện và turbine gió, Trung Quốc nắm giữ tới 91% sản lượng tinh chế toàn cầu. Khi Bắc Kinh siết kiểm soát xuất khẩu đất hiếm trong năm 2025, khoảng 6.500 tỷ USD giá trị sản xuất công nghiệp hạ nguồn mỗi năm bên ngoài Trung Quốc đã bị ảnh hưởng trực tiếp. Việc này cũng làm lộ ra một chiều kích khác của cuộc cạnh tranh toàn cầu khi mà tương lai của ngành năng lượng ngay từ lúc này đã trở thành "vũ khí độc quyền" của một vài quốc gia nhanh chân đi trước.
Trong nỗ lực kéo giá nam châm và đất hiếm xuống dưới 60% chi phí hiện tại vào năm 2030 bằng các khoản hỗ trợ của chính phủ, nhóm các nước G7 lại gặp phải sự phản đối ngay từ chính các doanh nghiệp trong nước mình, bởi nếu giá bị kéo xuống quá thấp, doanh nghiệp sẽ mất động lực đầu tư cho một kế hoạch đòi hỏi vốn khổng lồ và thời gian hoàn vốn dài. Đây chính là nghịch lý của chiến lược nội địa hóa ở quy mô công nghiệp mà ngay cả những quốc gia giàu có nhất cũng không dễ tìm ra lời giải.
Lựa chọn của các nước đang phát triển
Với những quốc gia đang phát triển thiếu nguồn lực để theo đuổi cả hai chiến lược trên ở quy mô lớn, con đường thực tế nhất vẫn là đồng thời tận dụng nguồn năng lượng sẵn có, đa dạng hóa nguồn cung cấp dầu mỏ và khí đốt, kết hợp với việc quay lại sử dụng than đá để phát điện. Đây là một lựa chọn kém lý tưởng về môi trường nhưng gần như bắt buộc về mặt kinh tế trong ngắn và trung hạn.
Ấn Độ là điển hình của chính sách này khi tái khởi động một số nhà máy điện than cũ ngừng hoạt động và đẩy mạnh đầu tư mới. Chính phủ Ấn Độ thậm chí yêu cầu các nhà máy chạy bằng than nhập khẩu hoạt động tối đa công suất trong các mùa cao điểm nắng nóng để tránh mất điện diện rộng. Với một số quốc gia khác, họ buộc phải chọn những giải pháp tạm với các nhà cung cấp để ứng phó với khủng hoảng trong ngắn hạn. Dĩ nhiên, điều này sẽ đi kèm với những "chi phí chìm" không hề nhỏ.
Điều này cho thấy chiến lược đối phó với bất ổn năng lượng không hề đồng nhất trên toàn cầu mà phân hóa rõ rệt theo năng lực tài chính và công nghệ của từng quốc gia. Nội địa hóa an ninh năng lượng không còn là một khẩu hiệu chính trị, mà là một quá trình tái cấu trúc sâu rộng, buộc mọi quốc gia phải tính toán lại chiến lược của mình theo đúng năng lực thực tế. Kỷ nguyên mà an ninh năng lượng có thể được đảm bảo hoàn toàn qua thị trường toàn cầu tự do đã khép lại, năng lực tự chủ dù không bao giờ tuyệt đối đã trở thành điều kiện tối thiểu để một quốc gia giữ được quyền tự quyết trước những biến động mà mình không thể kiểm soát.
Tiểu Phong
3 giờ trước
10 giờ trước
11 giờ trước
11 giờ trước
12 giờ trước
12 giờ trước
13 giờ trước
15 giờ trước
16 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
20 giờ trước
21 giờ trước
21 giờ trước
21 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
4 giờ trước
4 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước