🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Từ căn hầm công sự đến những tháng ngày lăn xả với công tác Hội

3 giờ trước
Mang trên mình những vết thương chiến tranh chưa bao giờ thôi nhức buốt, song 2 nữ thương binh 4/4 Lê Thị Tám và Phan Thị Mười (TP Đà Nẵng) đã dành trọn cuộc đời cho một mặt trận khác: đồng hành cùng phụ nữ, gia đình chính sách và những người yếu thế trên hành trình hàn gắn những vết thương sau hòa bình.

Những ký ức về những ngày sống trong hầm công sự, nhiều lần đối mặt với bom đạn vẫn được bà Lê Thị Tám nhớ rõ như mới xảy ra hôm qua

Bước qua lằn ranh sinh tử

Ở tuổi 80, mỗi lần trái gió trở trời, vết thương nơi ngực và phổi của thương binh Phan Thị Mười (SN 1946) lại nhói đau. Còn bà Lê Thị Tám (1951) vẫn mang trên cơ thể những vết đạn sau 9 lần suýt chết trên chiến trường, di chứng sốt rét rừng và những ký ức chưa bao giờ nguôi ngoai của những năm tháng sống giữa lằn ranh sinh tử…

Năm 1965, khi vừa tròn 18 tuổi, cô gái Phan Thị Mười rời quê Điện Nam gia nhập Tổng đội Thanh niên xung phong Nguyễn Văn Trỗi. Từ một xã đội phó du kích, bà trở thành Chính trị viên Tổng đội, trực tiếp chỉ huy gần 700 thanh niên, phần lớn là nữ, vận chuyển lương thực, vũ khí phục vụ chiến trường Quảng Đà.

Những chuyến đi không chỉ đối mặt với bom đạn mà còn phải đánh đổi bằng xương máu. Nữ thương binh vẫn chưa bao giờ quên trận càn năm ấy, khi đơn vị lương thực của bà bị địch phát hiện hầm công sự.

Ký ức về chiến trường Quảng Đà và những đồng đội đã ngã xuống vẫn khiến bà Phan Thị Mười (đứng) nhiều lần nghẹn lời.

Bom đạn trút xuống suốt từ sáng đến chiều, nhiều đồng đội đã anh dũng hy sinh. Phải đến khi trận đánh kết thúc, bà và những người còn sống mới có thể quay lại đưa thi thể đồng đội về mai táng. Giữa một chiến trường ngổn ngang khói lửa, ai nấy đều nghẹn ngào, vừa khâm liệm, chôn cất đồng đội, vừa không cầm được nước mắt.

Giọng bà chùng xuống khi nhắc về ký ức năm nào: “Đến bây giờ, trong số những đồng đội hy sinh hôm đó vẫn còn 6 anh em chưa tìm được phần mộ. Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy day dứt”. Nhưng cũng chính từ mất mát ấy, chiến sĩ Phan Thị Mười và những người còn sống tự nhủ "không cần gì hết, phải biến đau thương thành ý chí, tiếp tục bám trụ để hoàn thành nhiệm vụ nuôi quân, phục vụ chiến đấu".

Mỗi lần nhắc đến những đồng đội hy sinh trong trận càn năm ấy, bà Phan Thị Mười (bên trái) vẫn đau đáu về 6 người đến nay chưa tìm được phần mộ.

Ở vùng đất Điện Thắng, bà Lê Thị Tám cũng có những năm tháng sống trong lòng những căn hầm bí mật ngay dưới nền nhà. Ban ngày địch chiếm đóng, ban đêm cán bộ và du kích trở về hoạt động.

Mẹ con bà thay nhau làm “tai mắt”, cảnh giới cho lực lượng cách mạng. Chỉ một tiếng hô “Hello!” là báo hiệu địch đã đến. Còn khi an toàn, tín hiệu “Okay!” vang lên để những người dưới hầm biết có thể trở lên mặt đất.

Sau hơn nửa thế kỷ hòa bình, bà Lê Thị Tám (bên trái) vẫn tìm thấy sự đồng cảm khi ôn lại những năm tháng chiến đấu cùng những người đồng đội năm xưa.

Có lần, hai mẹ con giả vờ mang rổ đi cắt rau khi lính Mỹ đã phục sẵn quanh nhà. Lợi dụng lúc cúi xuống gần lỗ thông hơi, bà ghé sát miệng hầm thì thầm báo cho cán bộ tiếp tục ở yên bên dưới.

Chỉ chậm vài phút, cả căn hầm cũng có thể bị phát hiện, bà Tám hồi tưởng: “Có những ngày chúng tôi ở dưới hầm từ sáng đến tối, chỉ có nắm cơm với ít muối, rắc vài hạt tiêu. Nam nữ nằm cạnh nhau để sẵn sàng chiến đấu. Tôi đã nhiều lần tưởng mình không còn sống để trở về”.

Từ tuổi thiếu niên, người chiến sĩ Lê Thị Tám đã dẫn đầu đội thiếu niên tham gia đấu tranh chính trị, 2 lần bị địch bắt giam cùng nhiều lần thoát chết trong gang tấc giữa những trận càn. Có lần, đồng đội đi trước và đi sau đều hy sinh, chỉ còn mình bà sống sót nhờ lao xuống sông, ngâm mình dưới nước suốt nhiều giờ để tránh sự truy lùng của địch.

Đối với cả 2 người phụ nữ ấy, chiến tranh không chỉ để lại những mảnh đạn trên cơ thể. Gia đình bà Mười có 3 người em và em chồng là liệt sĩ, chồng và con đầu lòng của bà đều mang di chứng chất độc da cam. Bản thân bà là con của một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Gia đình bà Tám cũng có nhiều người thân đã anh dũng hy sinh, bà ngoại là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Có lẽ vì từng đi qua những mất mát ấy, 2 nữ thương binh ấy hiểu rõ hơn ai hết giá trị của hai tiếng “hòa bình”.

Mang thương tích để chữa lành

Cuối năm 1974, bà Phan Thị Mười chuyển từ lực lượng thanh niên xung phong về công tác tại Hội LHPN Quảng Đà. Còn bà Lê Thị Tám sau những năm hoạt động ở Đặc khu Quảng Đà cũng gắn trọn cuộc đời với tổ chức Hội.

Sau ngày hòa bình, mặt trận của họ không còn tiếng súng. Đó là những con đường đất đỏ dẫn vào Hòa Bắc, Hòa Phú, Hòa Liên, Trà My, Phước Sơn, Đông Giang, Tây Giang... - nơi 2 chị em cán bộ Hội lặn lội vận động từng nhà hảo tâm, từng doanh nghiệp để có từng suất quà cho phụ nữ nghèo, gia đình thương binh, bệnh binh, liệt sĩ.

Dù đã nghỉ hưu, bà Phan Thị Mười vẫn tích cực tham gia sinh hoạt Hội, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết cho công tác phụ nữ tại địa phương.

Không có ô tô cũng không có những nguồn tài trợ lớn, ký ức còn lại là những chặng đường 2 người phụ nữ khi thì đèo nhau trên chiếc Honda Cánh Én trong nội thành, lúc lại đi xe đò, mang theo xe đạp rồi tiếp tục cuốc bộ lên những vùng núi xa để gây dựng phong trào phụ nữ. Có những đoạn đường phải dắt xe hàng cây số, có khi mang thai vẫn lội bộ xuống cơ sở để hướng dẫn phong trào.

“Hồi đó khó khăn lắm! Chị Tám làm Chủ tịch Hội LHPN, còn tôi làm Phó Chủ tịch. Hai chị em đi khắp vùng sâu vùng xa để vận động từng chút một giúp các hội viên phụ nữ của mình, nhất là gia đình thương binh, liệt sĩ. Vất vả nhưng ai cũng hết lòng!”, bà Phan Thị Mười nhớ rõ những ngày đầu sau giải phóng.

Bà Tám tiếp lời: "Chiến tranh đã kết thúc nhưng nỗi đau thì còn nguyên. Có những người phụ nữ mất chồng, mất con; có những mái nhà chỉ còn lại người mẹ già và đàn con thơ; ruộng vườn tan hoang, cuộc sống chồng chất khó khăn…".

Hội LHPN khi ấy phát động phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, rồi “Trồng một cây, nuôi một con”, “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”... để vừa vực dậy đời sống, vừa giúp phụ nữ vượt qua những mất mát vật chất lẫn tinh thần.

“Chúng tôi cũng là thương binh nên càng hiểu nỗi đau của những người phụ nữ sau chiến tranh. Không phải đến Ngày 27/7 mới chăm lo, mà hễ chị em khó khăn là Hội lại tìm cách vận động để giúp họ vượt qua”, bà Mười tâm sự.

Chính từ sự đồng cảm ấy, nhiều phong trào tri ân người có công, chăm lo Mẹ Việt Nam Anh hùng, thăm hỏi gia đình liệt sĩ được duy trì bền bỉ qua nhiều năm. Theo bà Tám, việc tôn vinh Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cũng xuất phát từ những đề xuất của tổ chức phụ nữ nhằm ghi nhận sự hy sinh to lớn của những người mẹ Việt Nam.

Sau khi nghỉ hưu, bà Lê Thị Tám, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, Chủ tịch Hội Từ thiện và Bảo vệ quyền trẻ em thành phố Đà Nẵng, vẫn miệt mài kết nối nguồn lực để chăm lo trẻ em và phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn.

Nghỉ hưu đã nhiều năm, 2 nữ thương binh vẫn chưa bao giờ thôi gắn bó với công tác xã hội. Bà Lê Thị Tám tiếp tục tham gia Hội Từ thiện và Bảo vệ quyền trẻ em TP Đà Nẵng, huy động hàng chục tỷ đồng mỗi năm để chăm lo trẻ em khó khăn, xây nhà tình nghĩa, trao học bổng…

Từ những cô gái tuổi mười tám đôi mươi bước ra từ hầm công sự năm nào, 2 nữ thương binh Lê Thị Tám (thứ 3 từ trái qua) và Phan Thị Mười (thứ 2 từ trái qua) vẫn gắn bó với công tác phụ nữ và các hoạt động tri ân người có công.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, những căn hầm năm xưa giờ chỉ còn trong ký ức. Nhưng từ trong lòng những công sự chiến đấu ấy, 2 người phụ nữ đã dành cả thanh xuân để bảo vệ Tổ quốc và dành trọn phần đời còn lại để gìn giữ bình yên cho biết bao người phụ nữ khác.

Nguyễn Thị Thúy Hiền



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ