TS. Lê Xuân Huy: Cần nhìn kinh tế không gian từ giá trị ứng dụng trên mặt đất
Phần lớn giá trị kinh tế không gian nằm ở ứng dụng
Kinh tế không gian đang dần trở thành một lĩnh vực tạo ra giá trị trực tiếp cho nhiều ngành kinh tế, từ viễn thông, giao thông, logistics đến nông nghiệp, quản lý tài nguyên, môi trường và phòng chống thiên tai. Với Việt Nam, sau khoảng hai thập kỷ xây dựng năng lực về vệ tinh, quan sát Trái đất, định vị và hạ tầng mặt đất, dư địa phát triển đang được mở rộng khi các công nghệ không gian được kết nối với trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và dữ liệu chuyên ngành.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái kinh tế vũ trụ, vấn đề đặt ra không còn dừng ở việc phát triển bao nhiêu vệ tinh. Vấn đề là làm thế nào để biến hạ tầng, tín hiệu và dữ liệu không gian thành các sản phẩm và dịch vụ có thị trường. Đồng thời, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Xuân Huy, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.

TS. Lê Xuân Huy, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.
- Thưa ông, trong bối cảnh kinh tế không gian (space economy) đang phát triển nhanh trên thế giới và Việt Nam đã đặt định hướng hình thành hệ sinh thái kinh tế vũ trụ, ông đánh giá như thế nào về cơ hội phát triển kinh tế không gian tại Việt Nam? Việt Nam có những lợi thế, năng lực hoặc nhu cầu thực tiễn nào có thể tạo nền tảng và thị trường cho lĩnh vực này?
TS. Lê Xuân Huy: Trước hết, tôi cho rằng, chúng ta cần nhìn nhận kinh tế không gian theo nghĩa rộng.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa về phần hạ nguồn của nền kinh tế này. Theo đó, phần hạ nguồn bao gồm các sản phẩm và dịch vụ dựa trực tiếp trên hạ tầng, tín hiệu hoặc dữ liệu vệ tinh. Trong nhóm này, thông tin vệ tinh là một thành phần quan trọng. Định vị, dẫn đường và thời gian (PNT/GNSS) cũng thuộc nhóm thành phần quan trọng. Bên cạnh đó, quan sát Trái đất và khí tượng đóng vai trò thiết yếu. Các dịch vụ dựa trên vị trí và dữ liệu địa không gian cũng là những nhóm quan trọng.
Vì vậy, giá trị của kinh tế không gian không chỉ giới hạn ở việc chế tạo hay phóng vệ tinh. Phần lớn giá trị được tạo ra từ việc ứng dụng năng lực không gian. Cụ thể, năng lực này được tích hợp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế trên mặt đất.
Với Việt Nam, dư địa ứng dụng khá rộng. Thông tin vệ tinh có vai trò quan trọng trong phát thanh - truyền hình và truyền dữ liệu. Công nghệ này giúp kết nối thông tin đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và trên biển. Đồng thời, thông tin vệ tinh bảo đảm liên lạc khi hạ tầng mặt đất bị gián đoạn.
Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GNSS) đã trở thành hạ tầng nền cho giao thông, logistics và dịch vụ gọi xe. GNSS cũng phục vụ đắc lực cho đo đạc - bản đồ, nông nghiệp chính xác cùng nhiều dịch vụ dựa trên vị trí. Ngoài ra, tín hiệu thời gian chính xác từ vệ tinh còn được dùng để đồng bộ các hệ thống viễn thông và hạ tầng số.
Quan sát Trái đất và dữ liệu khí tượng phục vụ hiệu quả cho quản lý tài nguyên, nông nghiệp và đô thị. Nguồn dữ liệu này cũng hỗ trợ quản lý môi trường, biển, ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu. Khi kết hợp các nguồn dữ liệu này với trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán đám mây, phạm vi sản phẩm và dịch vụ sẽ được mở rộng hơn nữa cùng các dữ liệu chuyên ngành.
Việt Nam đồng thời đã có nền tảng ban đầu trên cả ba mảng lớn: hệ thống vệ tinh viễn thông VINASAT, năng lực quan sát Trái đất và phát triển vệ tinh nhỏ, cùng hạ tầng khai thác GNSS độ chính xác cao. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 tiếp tục đặt yêu cầu hình thành hệ sinh thái kinh tế vũ trụ, làm chủ hạ tầng kỹ thuật cốt yếu, công nghệ vệ tinh và dữ liệu không gian.
Theo tôi, cơ hội trong giai đoạn tới nằm ở việc kết nối những năng lực đang có với nhu cầu sử dụng thực tế và với doanh nghiệp, thay vì xem từng dự án vệ tinh như một mục tiêu riêng lẻ.
- Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong đầu tư hạ tầng, nghiên cứu và tạo lập thị trường ban đầu, trong khi khu vực tư nhân ngày càng tham gia sâu vào chuỗi giá trị kinh tế không gian. Việt Nam nên xây dựng cơ chế, chính sách và mô hình phân vai giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học như thế nào để vừa huy động nguồn lực xã hội, vừa phát triển năng lực công nghệ trong nước một cách bền vững?
TS. Lê Xuân Huy: Kinh tế không gian có đặc thù là vốn đầu tư lớn, chu kỳ phát triển dài và rủi ro công nghệ cao. Lĩnh vực này gắn liền với tần số - quỹ đạo, an toàn, an ninh và nhiều dịch vụ thiết yếu.
Vì vậy, Nhà nước vẫn cần giữ vai trò kiến tạo. Vai trò này thể hiện qua việc xác định nhu cầu dài hạn và bảo đảm các hạ tầng, năng lực chiến lược. Bên cạnh đó, Nhà nước xây dựng "luật chơi", tiêu chuẩn, cơ chế quản lý và tạo thị trường ban đầu thông qua đặt hàng hoặc mua dịch vụ khi phù hợp.
Doanh nghiệp nên là lực lượng mở rộng thị trường và thương mại hóa. Phạm vi tham gia không chỉ dừng ở chế tạo vệ tinh, mà còn bao gồm khai thác dung lượng thông tin vệ tinh, terminal, thiết bị mặt đất và kết nối IoT. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể phát triển thiết bị, phần mềm GNSS, dịch vụ định vị chính xác, nền tảng dữ liệu, AI, các sản phẩm địa không gian và dịch vụ chuyên ngành.
Viện nghiên cứu và trường đại học tập trung vào nghiên cứu dài hạn, các công nghệ có rủi ro cao, thử nghiệm, tiêu chuẩn và đào tạo. Đồng thời, cần có cơ chế để nhân lực và kết quả nghiên cứu dịch chuyển thuận lợi hơn giữa viện, trường và doanh nghiệp.
Đối với nhân lực công nghệ chiến lược, một điểm mới đáng chú ý là Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN ngày 01/8/2026. Thông tư này quy định về cơ chế tài chính cho nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.
Văn bản cho phép xây dựng thù lao theo vị trí, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra, đồng thời có cơ chế thuê chuyên gia trong và ngoài nước. Mức trần để lập và phê duyệt dự toán đối với Tổng công trình sư có thể tới 300 triệu đồng/tháng. Đối với Chủ nhiệm nhiệm vụ, mức trần dự toán có thể tới 150 triệu đồng/tháng. Cần lưu ý đây là mức trần dự toán chứ không phải mức chi trả mặc nhiên.
Theo tôi, ý nghĩa lớn hơn là cơ chế tài chính đã bắt đầu gắn rõ hơn với yêu cầu thu hút và giữ nhân lực chất lượng cao.
Cuối cùng, chính sách cần được thiết kế sao cho Nhà nước không làm thay thị trường, nhưng cũng không để doanh nghiệp phải tự đầu tư toàn bộ những hạ tầng có tính nền tảng. Các mô hình dùng chung hạ tầng, chia sẻ dữ liệu có phân loại, đặt hàng dịch vụ và hợp tác công - tư sẽ có ý nghĩa thực tế hơn nếu đi kèm các quy định rõ về an toàn, bảo mật, tần số - quỹ đạo và trách nhiệm pháp lý.
Kinh tế không gian cần nhiều doanh nghiệp tạo giá trị ở hạ nguồn
- Nếu nhìn kinh tế không gian theo toàn bộ chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, thiết kế - chế tạo vệ tinh, hạ tầng mặt đất đến khai thác tín hiệu, dữ liệu và cung cấp dịch vụ, theo ông đâu là những phân khúc có tiềm năng mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội thực chất?
TS. Lê Xuân Huy: Theo tôi, cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam nên được nhìn theo nhiều nhánh thay vì chỉ theo câu hỏi có tự chế tạo được vệ tinh hay không. Ở thông tin vệ tinh, doanh nghiệp có thể tham gia thiết bị đầu cuối, trạm mặt đất, truyền dẫn dự phòng, kết nối trên biển và hàng không, vệ tinh - IoT, truyền dữ liệu và các dịch vụ tích hợp với mạng mặt đất. Ở GNSS/PNT, dư địa nằm ở thiết bị thu, phần mềm, dịch vụ định vị độ chính xác cao, quản lý phương tiện và logistics, đo đạc - bản đồ, nông nghiệp chính xác và các dịch vụ dựa trên vị trí hoặc thời gian chính xác.
Ở quan sát Trái đất và khí tượng, giá trị lớn thường nằm ở phần xử lý và ứng dụng: nền tảng dữ liệu, thuật toán AI, bản đồ và sản phẩm thông tin phục vụ nông nghiệp, môi trường, thiên tai, biển, đô thị, hạ tầng, bảo hiểm và các hoạt động kinh tế khác. Doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu từ vệ tinh trong nước và quốc tế, không nhất thiết phải sở hữu một vệ tinh riêng.

Bên cạnh chế tạo hay phóng vệ tinh, giá trị kinh tế không gian phần lớn nằm ở việc ứng dụng năng lực này vào kinh tế mặt đất.
Phần thượng nguồn và hạ tầng hỗ trợ cũng có dư địa phát triển theo hướng chọn lọc. Các lĩnh vực tiềm năng gồm điện tử, cơ khí chính xác, phần mềm nhúng, thiết bị mặt đất và thiết bị kiểm thử. Bên cạnh đó, chúng ta có thể tập trung vào tích hợp hệ thống và một số linh kiện hoặc mô-đun có lợi thế.
Điểm quan trọng là lựa chọn những khâu có khả năng hình thành thị trường, tích lũy công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng. Kinh tế không gian sẽ phát triển bền vững hơn khi có nhiều doanh nghiệp tạo giá trị ở phần hạ nguồn. Song song với đó, một số doanh nghiệp trong nước cần từng bước nâng cấp năng lực công nghiệp ở phần thượng nguồn.
- Trong bối cảnh công nghệ hàng không và vũ trụ đã được xác định là một trong các nhóm công nghệ chiến lược, nếu lựa chọn một số ưu tiên trọng tâm cho giai đoạn 2026-2030 để vừa nâng cao năng lực tự chủ, vừa tạo thị trường và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, ông sẽ đề xuất những hướng nào?
TS. Lê Xuân Huy: Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã đưa công nghệ hàng không và vũ trụ vào Danh mục công nghệ chiến lược. Tiếp đó, Quyết định số 808/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Trong danh mục này có vệ tinh và chùm vệ tinh quan sát Trái đất.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ kinh tế không gian, định hướng giai đoạn 2026-2030 cần được đặt trong một kiến trúc rộng hơn. Kiến trúc tổng thể này bao gồm thông tin vệ tinh, hệ thống định vị - dẫn đường - thời gian (PNT/GNSS) và quan sát Trái đất. Đồng thời, nó gắn liền với các hạ tầng cùng hệ thống dịch vụ hạ nguồn liên quan.
Ưu tiên thứ nhất là bảo đảm tính liên tục và khả năng tự chủ cần thiết của các dịch vụ không gian thiết yếu. Với thông tin vệ tinh, điều đó bao gồm năng lực khai thác vệ tinh, hạ tầng mặt đất và bảo vệ tài nguyên tần số - quỹ đạo. Với PNT/GNSS, trọng tâm thực tế có thể là nâng cao độ chính xác, độ tin cậy và khả năng khai thác các hệ GNSS quốc tế thông qua mạng trạm, dịch vụ tăng cường, thiết bị và phần mềm trong nước. Với quan sát Trái đất, cần phát triển năng lực vệ tinh và dữ liệu đa cảm biến theo nhu cầu quốc gia, thay vì các dự án tách rời.
Ưu tiên thứ hai là phát triển thị trường hạ nguồn. Các cơ quan nhà nước cần chuyển nhu cầu thực tế thành bài toán và tiêu chuẩn dịch vụ rõ ràng. Đồng thời, cơ quan quản lý cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng hạ tầng, tín hiệu và dữ liệu không gian để cung cấp dịch vụ. Cuối cùng, hiệu quả của đầu tư không gian phải được đo bằng mức độ sử dụng dịch vụ, chất lượng các quyết định được cải thiện và giá trị kinh tế - xã hội tạo ra.
Ưu tiên thứ ba là xây dựng năng lực công nghiệp và nguồn nhân lực có chọn lọc. Việt Nam không nhất thiết phải tự sản xuất mọi cấu phần. Thay vào đó, chúng ta cần từng bước làm chủ các khâu quyết định năng lực hệ thống, tích hợp - thử nghiệm, vận hành, phần mềm, hạ tầng mặt đất và một số công nghệ giá trị cao. Song song với đó, việc áp dụng các cơ chế mới như Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN sẽ giúp thu hút chuyên gia và duy trì đội ngũ kỹ thuật nòng cốt.
Xin cảm ơn ông!
Theo TS. Lê Xuân Huy, nếu ba hướng đi trên được triển khai đồng bộ, các dự án vũ trụ sẽ không dừng lại ở việc tạo ra thiết bị trên quỹ đạo mà sẽ tạo ra dịch vụ, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, bồi dưỡng nhân lực và tích lũy năng lực công nghệ lâu dài.
Phương Hà
3 phút trước
25 phút trước
12 phút trước
8 phút trước
25 phút trước
26 phút trước
27 phút trước
48 phút trước
57 phút trước