Trình Quốc hội 2 phương án về cách thức quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Sáng 3/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình bày tóm tắt Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN).
Dự thảo Luật gồm 2 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung 35 điều, bãi bỏ 2 điều của Luật TNBTCNN hiện hành; Điều 2 là điều khoản thi hành. Trong đó, sửa đổi, bổ sung 6 nhóm nội dung lớn.
Theo đó, về nguyên tắc, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, dự thảo Luật kế thừa quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”, đồng thời bổ sung quy định “Trường hợp luật khác quy định về phạm vi TNBTCNN thì việc xác định phạm vi TNBTCNN áp dụng theo luật đó”.
Việc bổ sung nội dung trên là để bảo đảm tính khả thi, khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn lập pháp của Quốc hội thời gian qua, bởi lẽ tuy Luật TNBTCNN quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này” nhưng một số luật khác đã quy định về phạm vi bồi thường của Nhà nước, gần đây nhất là Luật Quản lý thuế mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2026; đồng thời tạo sự linh hoạt trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, kịp thời phản ứng chính sách khi thực tiễn đòi hỏi cần quy định phạm vi TNBTCNN tại các luật khác; bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng nhiều luật sửa đổi Luật này.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng dự thảo Luật, còn có ý kiến khác nhau về cách thức quy định phạm vi TNBTCNN nên Chính phủ trình Quốc hội 02 phương án để tiếp tục thảo luận, cho ý kiến, cụ thể như sau:
Phương án 1: Là phương án Chính phủ lựa chọn và đã được thể hiện trong dự thảo Luật theo hướng bổ sung quy định “Trường hợp luật khác quy định về phạm vi TNBTCNN thì việc xác định phạm vi TNBTCNN áp dụng theo luật đó”.
Phương án 2: Giữ như quy định của Luật TNBTCNN hiện hành, chỉ quy định “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”.
Về cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự có quyền yêu cầu cơ quan quản lý người thi hành công vụ giải quyết yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án nhằm bảo đảm tương đồng, thống nhất với việc giải quyết bồi thường trong lĩnh vực khác.
Về thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường, dự thảo Luật bổ sung quy định việc ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp thương lượng không thành; đồng thời, tăng thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.
Về kinh phí bồi thường, dự thảo quy định theo hướng cơ quan giải quyết bồi thường ở cấp nào thì ngân sách cấp đó cấp kinh phí; quy định về kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, dự thảo Luật bổ sung quy định miễn trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể như: lập công lớn, mắc bệnh hiểm nghèo; lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn.
Về quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường nhà nước, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng Luật chỉ quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo tinh thần của Nghị quyết 66-NQ/TW.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra.
Trình bày báo cáo thẩm tra dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (UBPLTP) của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, đa số ý kiến trong UBPLTP tán thành với Phương án 2 được nêu trong Tờ trình của Chính phủ (giữ nguyên quy định của Luật TNBTCNN hiện hành) do: nguyên tắc này đã được quy định và thực hiện nhất quán từ khi ban hành Luật đến nay, là căn cứ quan trọng để xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước, cần quy định tập trung trong Luật TNBTCNN để bảo đảm minh bạch, khả thi, tránh tình trạng mở rộng không có căn cứ phạm vi TNBTCNN trong các luật khác.
Bên cạnh đó, một số ý kiến trong UBPLTP và một số cơ quan của Quốc hội tán thành với Phương án 1 của Chính phủ trình (như quy định của dự thảo Luật) để bảo đảm tính ổn định của Luật TNBTCNN, khắc phục tình trạng phải sửa đổi Luật TNBTCNN khi luật chuyên ngành quy định các trường hợp mới về TNBTCNN, nhất là trong bối cảnh thực tiễn hiện nay có nhiều biến động, quy định như Phương án 1 sẽ linh hoạt hơn trong xác định phạm vi TNBTCNN, bảo đảm tính kịp thời, phúc đáp yêu cầu thực tiễn.
Về phạm vi TNBTCNN trong hoạt động quản lý thuế (khoản 6 Điều 1 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN), nhiều ý kiến trong UBPLTP đề nghị giữ quy định như Luật TNBTCNN hiện hành và cho rằng tại Tờ trình của Chính phủ đề nghị sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định tại Điều 37, Điều 38 của Luật Quản lý thuế là chưa thực sự thuyết phục.
Bởi các lý do sau: Quy định của Luật Quản lý thuế chỉ dẫn chiếu đến pháp luật về TNBTCNN và Luật TNBTCNN hiện hành quy định 04 nhóm hành vi trái pháp luật trong lĩnh vực quản lý thuế làm phát sinh TNBTCNN là phù hợp, bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý thuế. Việc dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TNBTCNN không quy định cụ thể các trường hợp phát sinh TNBTCNN mà dẫn chiếu trở lại Luật Quản lý thuế làm mở rộng phạm vi bồi thường từ 4 nhóm hành vi lên hơn 10 nhóm hành vi dẫn tới việc thay đổi chính sách lớn, tác động đối với ngân sách nhà nước, nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý thuế mới cần được đánh giá tác động kỹ lưỡng mới có cơ sở bổ sung vào dự thảo Luật; Trong quá trình tham gia góp ý vào dự thảo Luật, Bộ Tài chính nhiều lần có ý kiến đề nghị giữ quy định này như Luật TNBTCNN hiện hành; Nội dung sửa đổi, bổ sung này chỉ dẫn chiếu chung đến Luật Quản lý thuế, chưa quy định rõ hành vi cụ thể, có thể dẫn đến cách hiểu, cách vận dụng không rõ và không thống nhất trong thực tế.
Một số ý kiến trong UBPLTP tán thành với quy định của dự thảo Luật vì Luật Quản lý thuế đã mở rộng phạm vi TNBTCNN theo hướng không giới hạn trong một nhóm hành vi cụ thể nào. Như vậy, dự thảo Luật lần này sửa đổi khoản 9 Điều 17 của Luật TNBTCNN hiện hành theo hướng dẫn chiếu đến Luật Quản lý thuế nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với Luật Quản lý thuế.
T.Chung
4 phút trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
Vừa xong
2 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
4 phút trước