Triển khai 8 bước rà soát vị trí việc làm, xây dựng biên chế giai đoạn 2027-2031
Hoàn thành phương án biên chế trong quý IV/2026
Ngày 20/10, Bộ Nội vụ tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 trong phạm vi Bộ.
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long yêu cầu các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ tập trung thực hiện nhiệm vụ theo Kết luận số 107-KL/TW của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long chủ trì hội nghị (Ảnh: Trung Kiên/Dân trí)
Theo định hướng được quán triệt tại hội nghị, vị trí việc làm phải trở thành căn cứ xuyên suốt trong công tác quản lý cán bộ, từ tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá đến trả lương. Việc rà soát lần này không chỉ dừng ở việc thống kê vị trí hiện có mà phải làm rõ nhiệm vụ, công việc, sản phẩm đầu ra, khối lượng công việc và nhu cầu nhân lực thực tế.
Thứ trưởng Trương Hải Long yêu cầu các đơn vị xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp thiết, ưu tiên nguồn lực và điều kiện để hoàn thành. Các đơn vị cần chủ động rà soát vị trí việc làm, đồng thời chuẩn bị phương án biên chế trên cơ sở kết quả thực tế và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Theo kế hoạch của Bộ Nội vụ, việc rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 phải hoàn thành trong quý IV/2026. Riêng phương án biên chế của Bộ phải được hoàn thành, gửi Ban Tổ chức Trung ương trước ngày 2/11 và tiếp tục rà soát, hoàn thiện nếu có yêu cầu.
Bộ Nội vụ cũng triển khai việc xây dựng hướng dẫn cùng hệ thống biểu mẫu để các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ thực hiện thống nhất.
Tám bước xác định vị trí việc làm và nhu cầu nhân lực
Theo nội dung hướng dẫn triển khai được nêu tại hội nghị, quy trình rà soát vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế gồm 8 bước.
Bước 1: Thực hiện rà soát, phân định nhiệm vụ theo trục dọc giữa Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã; phân loại các nhiệm vụ tiếp tục thực hiện, mới tiếp nhận, đã chuyển giao, chấm dứt hoặc cần bổ sung; xác định rõ nhiệm vụ được tự quyết định, nhiệm vụ vẫn phải xin ý kiến cấp trên.
Bước 2: Từ từng nhiệm vụ, xác định các công việc, công đoạn cần thực hiện; mỗi công việc gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể, có thể kiểm chứng và gắn với vị trí việc làm đảm nhiệm. Mỗi vị trí việc làm gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định; không hình thành vị trí riêng chỉ từ một công đoạn hoặc một nhiệm vụ đột xuất.
Bước 3: Trên cơ sở danh mục nhiệm vụ, công việc, công đoạn gắn với sản phẩm đã xác định ở bước 2, các bộ, ngành xác định thời gian thực hiện nhiệm vụ, trong đó thời gian thực hiện đối với từng công việc, vị trí việc làm xác định theo Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương và do đơn vị trực tiếp sử dụng nhân lực đề xuất.
Bước 4: Xác định các công việc, công đoạn thực tế thay đổi do tác động chuyển đổi số, tự chủ, thuê dịch vụ và xã hội hóa.
Bước 5: Trên cơ sở kế thừa bản mô tả, khung năng lực đã phê duyệt, các đơn vị rà soát theo các nhóm: tiếp tục sử dụng, cần điều chỉnh, tích hợp hoặc đề nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo thẩm quyền.
Bước 6: Các đơn vị thực hiện xác định số người cần thiết theo từng vị trí việc làm theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
Bước 7: Đối chiếu nhu cầu với nhân lực hiện có, xem xét các phương án bố trí lại, điều chuyển, bồi dưỡng, kiêm nhiệm, dùng chung nhân lực, đổi mới phương thức làm việc, ứng dụng công nghệ và thuê dịch vụ hợp pháp theo thẩm quyền và năng lực để lựa chọn tiếp tục bố trí, đào tạo, bố trí lại hoặc điều chuyển theo quy định làm cơ sở xây dựng phương án biên chế.
Bước 8: Cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện có trách nhiệm rà soát, kiểm tra, xác nhận tính đầy đủ, chính xác của dữ liệu thuộc phạm vi quản lý. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về dữ liệu gốc, kết quả xác định nhu cầu nhân lực và phương án sử dụng biên chế.
Xác định biên chế từ nhiệm vụ, không chỉ từ số người hiện có
Quy trình 8 bước đặt trọng tâm vào việc xác định nhiệm vụ, công việc và sản phẩm đầu ra trước khi tính toán nhu cầu nhân lực. Cách tiếp cận này nhằm tạo cơ sở đánh giá sát hơn yêu cầu công việc của từng cơ quan, đơn vị, thay vì chỉ dựa vào số lượng nhân sự đang có hoặc chỉ tiêu biên chế đã được giao.
Việc đối chiếu nhu cầu với nhân lực hiện hữu cũng giúp xem xét khả năng bố trí lại, điều chuyển, bồi dưỡng và sử dụng chung nhân lực trước khi đề xuất phương án biên chế. Quá trình này đồng thời tính đến tác động của chuyển đổi số, cơ chế tự chủ và việc thay đổi phương thức cung cấp dịch vụ.
Yêu cầu kiểm tra, xác nhận dữ liệu và đề cao trách nhiệm người đứng đầu là khâu quan trọng để bảo đảm kết quả rà soát có căn cứ. Dữ liệu về nhiệm vụ, khối lượng công việc, sản phẩm và nhân lực cần được kiểm chứng trước khi sử dụng làm cơ sở xây dựng phương án.
Theo kế hoạch, Bộ Nội vụ sẽ hoàn thiện phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 trên cơ sở kết quả rà soát vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Đây là phương án của Bộ Nội vụ trong giai đoạn triển khai hiện nay, không đồng nghĩa với việc biên chế của toàn hệ thống chính trị đã được quyết định chính thức.
Thanh Thắng
5 giờ trước
17 giờ trước
23 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
51 phút trước
3 giờ trước
31 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước