🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Trao quyền định giá xăng dầu cho doanh nghiệp: Cần tìm cách hài hòa lợi ích người dân

2 giờ trước
Nếu không dựng đủ hàng rào, việc trao quyền định giá xăng dầu cho doanh nghiệp rất dễ trượt sang tình trạng lạm dụng sức mạnh thị trường.

Theo dự thảo 10 về Nghị định Kinh doanh xăng dầu của Bộ Công thương, giá bán buôn và bán lẻ xăng dầu sẽ do các thương nhân đầu mối và thương nhân phân phối tự quyết định.

Hiện nay, thị trường xăng dầu Việt Nam có mức độ tập trung cao. Thị phần chủ yếu nằm trong tay một vài doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp này không chỉ chi phối nguồn cung mà còn kiểm soát hệ thống kho bãi, cảng, logistics và mạng lưới phân phối.

Nhiều cửa hàng xăng dầu nhỏ lẻ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một đầu mối. Họ bị áp đặt về giá nhập, mức chiết khấu, hạn mức giao hàng và các điều kiện thanh toán. Điều này khiến vị thế thương lượng của khối bán lẻ và mức độ cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế.

PLO đã có cuộc trao đổi với PGS TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế để làm rõ quy định này ảnh hưởng thế nào đến mặt bằng chung và quyền lợi người tiêu dùng.

PGS TS Ngô Trí Long.

Đừng để người dân phải trả “phí thống lĩnh” khi doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu

.PV: Thưa ông, so với cơ chế điều hành giá hiện nay, điểm đổi mới lớn nhất của chính sách này là gì?

+ PGS TS Ngô Trí Long: Dự thảo Nghị định kinh doanh xăng dầu đã chuyển một bước quan trọng khi trao quyền quyết định giá bán về cho doanh nghiệp.

Mô hình được chọn là doanh nghiệp quyết định giá, Nhà nước giám sát bằng dữ liệu và công cụ pháp luật. Đây là hướng đi phù hợp với nguyên tắc kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, tác động dây chuyền lên mọi loại giá cả. Câu chuyện không chỉ đơn giản là để doanh nghiệp tự định giá. Vấn đề là tự định giá trong khuôn khổ nào để người tiêu dùng không phải trả “phí giữ vị trí thống lĩnh”.

Điều này đặc biệt quan trọng trong một thị trường xăng dầu chưa có sự cạnh tranh hoàn hảo.

Nếu không dựng đủ hàng rào, việc trao quyền này rất dễ trượt sang tình trạng lạm dụng sức mạnh thị trường.

.Khi trao quyền tự quyết cho doanh nghiệp, dư luận lo ngại sẽ xảy ra tình trạng các "ông lớn" bắt tay làm giá hoặc đẩy rủi ro cho người dân, ông đánh giá thế nào về điều này?

+ Doanh nghiệp được quyền quyết định giá nhưng không phải là thả nổi. Dự thảo quy định rõ giá bán phải theo đúng pháp luật về giá và cơ chế thị trường.

Tinh thần cốt lõi là doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.

Hơn nữa, dự thảo không bỏ mặc giá của thương nhân đầu mối mà vẫn neo theo một công thức cụ thể. Theo đó, giá xăng dầu gồm giá mua, chi phí tạo nguồn, chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận và thuế.

Có thể hiểu là Nhà nước không ấn định con số cụ thể nhưng đặt ra quy tắc giá hình thành từ đâu.

Đối với chi phí kinh doanh định mức, doanh nghiệp không được tự đặt tùy ý. Dự thảo yêu cầu dùng mức chi phí hiện hành làm khởi điểm. Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Tài chính công bố mức này khi nghị định có hiệu lực.

Đây chính là cái neo để tránh tình trạng các khoản chi phí bị "nở" ra bất thường mà không ai kiểm chứng được.

Dự thảo cũng yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai giá và kết nối dữ liệu sau khi điều chỉnh. Đây là bước tiến quan trọng để chuyển từ quản lý bằng cảm giác sang quản lý bằng dòng dữ liệu.

Tuy nhiên, việc kê khai sau khi tăng giá chỉ là ghi nhận. Muốn bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu phải phục vụ được ba việc: cảnh báo sớm, kiểm tra nhanh và xử lý đủ răn đe.

Dự thảo vẫn quy định mức giá trần các địa bàn xa cảng, xa kho hoặc xa cơ sở sản xuất được cộng thêm chi phí thực tế phát sinh. Khoản này không được vượt quá 2% giá bán lẻ công bố. Đây là cách dung hòa giữa thị trường và thực tiễn logistics.

Tuy nhiên, ngoại lệ luôn là điểm dễ bị lợi dụng nếu không có tiêu chí rõ ràng thế nào là xa. Nếu không có danh mục địa bàn và lộ trình cập nhật, việc kiểm toán chỉ là đúng giấy tờ chứ không chứng minh được đúng bản chất chi phí.

. Vừa qua tại Đà Nẵng xảy ra hiện tượng trên một đoạn đường lại có hai giá xăng, việc này cho thấy điều gì về cơ chế giá theo vùng trong dự thảo thưa ông?

+ Đây là tín hiệu cảnh báo rất rõ về rủi ro thực thi. Về hình thức pháp lý, doanh nghiệp có thể không vi phạm nếu áp dụng đúng mức giá theo vùng đã đăng ký.

Nhưng về bản chất, khi hai cửa hàng chỉ cách nhau vài kilomet, cùng hạ tầng giao thông, cùng điều kiện vận chuyển mà giá bán vẫn khác nhau thì cơ chế giá theo vùng đang bộc lộ lỗ hổng.

Lỗ hổng nằm ở chỗ khái niệm “xa cảng, xa kho” chưa được định danh rõ ràng. Nếu không có tiêu chí định lượng, danh mục địa bàn và cơ chế cập nhật minh bạch, việc cộng thêm chi phí rất dễ bị “hợp thức hóa bằng giấy tờ”.

Khi đó, công tác kiểm tra chỉ dừng ở việc xem hồ sơ có đủ hay không, chứ chưa thể khẳng định chi phí đó có thực sự phát sinh hay không. Hệ quả là ngoại lệ có thể lấn át nguyên tắc.

Theo tôi, dự thảo nghị định mới cần siết lại không thể chỉ khống chế bằng trần 2%.

Phải khóa ngoại lệ bằng tiêu chí pháp lý rõ ràng: Công bố danh mục địa bàn được áp dụng giá theo vùng, xác định cụ thể khoảng cách vận chuyển, điều kiện logistics, và kiểm soát chi phí trên cơ sở thực tế, không chỉ dựa vào chứng từ.

Nếu không làm rõ từ khâu thiết kế, rủi ro “đúng quy trình nhưng sai bản chất” sẽ tiếp tục lặp lại.

Doanh nghiệp xăng dầu tự định giá phù hợp với Luật giá, Luật cạnh tranh. Ảnh: TÚ UYÊN

Ba hàng rào ngăn chặn độc quyền khi doanh nghiệp tự định giá xăng dầu.

. Việc cho doanh nghiệp xăng dầu tự định giá có phù hợp với Luật Giá hay Luật Cạnh tranh không, thưa ông?

+ Luật Giá không cấm doanh nghiệp tự định giá. Nhà nước quản lý bằng các công cụ như kê khai, công khai giá, kiểm tra yếu tố hình thành giá và bình ổn khi có biến động bất thường. Dự thảo nghị định nhìn chung đi đúng tinh thần này.

Vì vậy, vấn đề nằm ở chỗ cơ chế kê khai và giám sát có đủ để ngăn tăng giá bất hợp lý hay không, nhất là khi thị trường còn tập trung.

Tương tự, Luật Cạnh tranh chỉ cấm lạm dụng quyền định giá khi doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh hoặc cấu kết với nhau để hạn chế cạnh tranh.

Rủi ro lớn của thị trường xăng dầu Việt Nam không phải là một doanh nghiệp tăng giá đơn lẻ. Mối lo nằm ở chỗ nhóm doanh nghiệp có sức mạnh thị trường biến việc tự định giá thành định giá bằng sức mạnh. Khi đó, người tiêu dùng sẽ là bên chịu thiệt.

Vì vậy, cho doanh nghiệp tự định giá không trái luật, nhưng lạm dụng vị thế thống lĩnh để định giá là điều phải ngăn chặn.

. Như ban đầu ông nhắc đến, hàng rào nào để doanh nghiệp tự quyết giá xăng dầu đúng cơ chế thị trường mà không bị biến tướng thành lạm dụng vị thế?

+ Đó là hàng rào minh bạch: Việc minh bạch hóa cấu phần giá không chỉ dừng lại ở khâu kê khai mà phải đảm bảo yếu tố giải trình và kiểm tra được. Dữ liệu cấu phần giá cần được chuẩn hóa theo công thức quy định tại dự thảo.

Dữ liệu tối thiểu phải bao gồm giá mua bình quân theo lô hoặc nguồn nhập khẩu, chi phí logistics tách bạch như vận tải, bảo hiểm và lưu kho.

Ngoài ra, các yếu tố như chi phí định mức, thời điểm áp dụng, lợi nhuận dự kiến và các loại thuế cũng phải được công khai đúng quy định. Mục tiêu của việc này là giúp cơ quan quản lý và thị trường dễ dàng so sánh, phát hiện các dấu hiệu bất thường.

Để người dân và cửa hàng dễ theo dõi, cần xây dựng một bảng giá điện tử tập trung hoặc chuẩn API dữ liệu. Công cụ này giúp người dân dễ dàng tra cứu, đối chiếu chênh lệch giữa các khu vực.

Nếu thiếu hàng rào pháp lý, người tiêu dùng là đối tượng chịu trực tiếp, ảnh hưởng lớn nhất. Ảnh: TÚ UYÊN

Hàng rào cạnh tranh: Cơ quan chức năng cần thiết lập các quy định về cạnh tranh để khóa những hành vi điển hình của doanh nghiệp thống lĩnh.

Việc tăng giá dồn dập trong thời gian ngắn cũng là dấu hiệu cần giám sát chặt chẽ. Khi chạm các ngưỡng này, hệ thống sẽ tự động kích hoạt quy trình kiểm tra nhanh về yếu tố hình thành giá, tồn kho và nguồn cung.

Ngoài ra, cơ quan chức năng cần ngăn chặn tình trạng đồng pha tăng giá vì đây là dấu hiệu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Nếu thị trường xuất hiện mẫu hình nhiều đầu mối tăng giá cùng thời điểm với biên độ gần như nhau và lặp đi lặp lại thì phải coi đó là dấu hiệu rủi ro cao. Đặc biệt khi cấu phần chi phí không tương ứng, cơ quan cạnh tranh cần vào cuộc ngay.

Hàng rào thực thi: Phải đủ mạnh, xử lý nhanh, đủ nặng, buộc khắc phục hậu quả.

Cuối cùng, cần bổ sung cơ chế khiếu nại và bảo vệ người cung cấp thông tin hiệu quả. Các cửa hàng bán lẻ và nhà phân phối thường là nơi thấy rõ nhất bóp chiết khấu, cắt hàng, ép điều kiện nhưng họ cũng là bên dễ bị trả đũa nhất.

Do đó, cần một kênh phản ánh bảo mật và cơ chế bảo vệ các đơn vị này.

Khi các hàng rào này đủ mạnh, việc tự định giá mới thực sự trở thành cơ chế thị trường. Khi đó, người dân mới là bên được bảo vệ chứ không phải gánh thay “phần lợi nhuận của sức mạnh thị trường” của các doanh nghiệp thống lĩnh.

Xin cảm ơn ông!

TÚ UYÊN

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ