🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tình yêu quê hương và khát vọng hòa bình qua trang viết

18 phút trước
Cũng như những người dân Quảng Trị, hầu hết những văn nghệ sĩ vùng đất này đều nặng lòng với quê cha đất tổ, với khát vọng hòa bình và thể hiện qua tác phẩm của mình.

Cầu Hiền Lương - Ảnh: P.X.D

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nổi tiếng với bài thơ “Khoảng trời hố bom”, đoạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ giai đoạn 1972-1973. Bài thơ viết tại vùng quê Lệ Thủy đã trở thành một thi phẩm khiến nhiều độc giả xúc động và đồng cảm trước sự hy sinh của nữ thanh niên xung phong, để quê hương, đất nước được hòa bình, thống nhất. Nhưng bà còn có những tác phẩm khác nặng lòng với vùng đất Quảng Trị.

Mười năm sau ngày nước nhà thống nhất, bà đến với Cửa Tùng và sáng tác bài thơ “Đêm cuối ở Cửa Tùng”: "Cửa Tùng!/Tôi đi trên đất đỏ/Những hàng phi lao xanh/Tiếng biển vỗ về và gió/Ngõ Cửa Tùng bình yên nghìn năm rồi/Con còng biển chạy qua/Như tuổi thơ băng qua tấm lòng mẹ/Tôi như đứa bé đuổi theo con còng nhỏ".

Một Cửa Tùng êm đềm, thi vị, mời mọc mọi người với biển xanh, nắng vàng, cát trắng. Một Cửa Tùng yên ả, thanh bình ngỡ như chưa bao giờ biết đến khói lửa chiến tranh và những nỗi niềm sinh ly tử biệt.

"Nhưng không, nào phải thế…/Miệng reo hò/Chợt sững sờ/Một cây dừa sát kề mép nước/Vết sẹo bom găm ăn suốt thân mình/Vẫn nhoài ra biển/Xòe bàn tay xanh vẫy cánh buồn xa/Tôi từ đứa trẻ con bỗng hóa người già/Trước cây dừa bị chém/Không thể còn vô tư…".

Đồng ruộng xã Vĩnh Linh - Ảnh: P.X.D

Tác giả sững sờ trước dấu tích của chiến tranh dù không hề còn cảnh bom rơi đạn nổ, không còn chia lìa và ngóng đợi, không còn tâm trạng "ngày Bắc đêm Nam" như từng đằng đẵng hàng chục năm trước đó. Chỉ là, vết thương trên thân cây dừa cũng khiến lòng người đột nhiên rướm máu, xót xa nghĩ về những năm tháng chưa xa.

"Tiếng sóng vẫn nhắc kia/Lời nhắc nhở đều đều từng nhịp/Như tiếng vọng tâm hồn người đã khuất/Bao hài cốt còn nằm dưới đất/Chết nguyên hình trong địa đạo Vĩnh Quang".

Trong cảm quan của người viết lúc này, biển không còn bình yên và vô tư, vô tâm như cảm nhận ban đầu, mà gợi nhắc một quá khứ đau thương nhưng bi tráng. Nhắc đến chiến tranh cũng để thể hiện khát vọng hòa bình và nâng niu những ngày tháng yên lành hôm nay mà mỗi chúng ta đang sống. Đoạn kết bài thơ lắng lại một nỗi niềm, cho thấy một trái tim nữ tính, yêu thương thiết tha và đắm đuối: "Đêm nay đêm cuối với Cửa Tùng/Tôi càng hiểu hơn cội nguồn đất nước/Tình yêu tôi xót xa, mặn mòi, sâu bền như biển/Tình yêu không bình yên mà sóng vỗ liên hồi/Tôi như đi trong huyền thoại Cửa Tùng ơi!".

Nhà thơ Triệu Phong (tên thật là Đặng Sĩ Tịnh), trưởng thành trong phong trào đấu tranh yêu nước, tiến bộ của miền Nam trước năm 1975 đã dâng tặng quê nhà bài thơ “Trôi theo dòng sông Ái Tử” với những câu lục bát như lời ru tha thiết của bậc sinh thành: "…Con về rạp trán tạ làng/Cháo rau cũng đã cưu mang một thời/Một thời giặc giã tơi bời/Một thời máu lệ núi đồi trổ bông/Bây giờ bom lấp dòng sông/Mạch nguồn con đủ cho đồng mạ xanh?/Điều gì bí ẩn long lanh/Chìm trong gian khó nẩy thành phù sa…".

Lời thơ chân tình, mộc mạc nhưng gan ruột đã được nuôi dưỡng từ một tình yêu máu thịt nơi "chôn nhau cắt rốn" nên dẫu có đi bốn phương trời, lòng vẫn đau đáu với làng quê yêu dấu, với khát vọng hồi sinh diệu kỳ từ chiến tranh đổ nát.

Nhà văn Ngụy Ngữ (tên thật là Nguyễn Đức Ngữ) cũng là cây bút hoạt động văn học ở miền Nam trước năm 1975. Sau ngày đất nước thống nhất, ông công tác ở Xưởng phim truyện Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. Một tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi của ông trước năm 1975 là truyện ngắn “Con thú tật nguyền”.

Sau năm 1975, tác phẩm đã được dựng thành phim và được đông đảo người xem đón nhận. Truyện ngắn kể về Bình. Qua số phận nhân vật, tác phẩm gợi lên nỗi đau của những con người bị chiến tranh làm tổn thương, bị đẩy vào những hoàn cảnh nghiệt ngã và không dễ tìm được đường trở về với cuộc sống bình thường. Đó là thông điệp ám ảnh mà tác phẩm đọng lại trong cảm nhận của độc giả.

Sông Kiến Giang qua xã Lệ Thủy -P.X.D

Nhà văn tài năng Lê Tri Kỷ (tên thật là Nguyễn Duy Hinh) cũng là tác giả của nhiều tác phẩm văn học được độc giả ghi nhận và có sức sống lâu bền, trong đó có những truyện, ký về quê hương Quảng Trị được ông viết sau nhiều năm đi tập kết. Truyện ký “Những tiếng nói thầm” là một tác phẩm trĩu nặng yêu thương với quê nhà.

Hãy xem cảm giác của nhà văn khi qua cầu Hiền Lương, chiếc cầu đã có quá nhiều người nói đến: “ …Tôi cảm thấy không khí thiêng liêng như đang đi trên lịch sử. Mỗi tấm ván cầu, nhích lên vài tấc về bờ Nam, như đang kể với tôi một pho truyện. Tôi muốn giữ xe lại trên từng tấm ván, hay ít ra, cũng không cho phép nó được ngốn đi dưới bốn bánh xe cao su lạnh lùng hàng chục mét cầu trong giây phút. Lẽ nào nó không biết rằng nó đang đi trên thương, nhớ, chờ, mong, và cứ mỗi phút trên cầu là hàng chục năm dồn nén lại? Hiền Lương đây! Giới tuyến đây!”.

Nhà văn Xuân Đức đã mượn tùy bút “Mảnh làng trong tôi” để trả lời và cũng là giãi bày tâm sự với một bạn văn, khi người ấy thắc mắc: “Tại sao anh lại cứ bám mãi vào cái làng xưa của anh như thế?Có gì ở chỗ đó mà viết mãi?". Bài tùy bút là những kỷ niệm, nỗi nhớ khôn nguôi của nhà văn Xuân Đức về ký ức hương hỏa, nơi chôn nhau cắt rốn.

Nếu không nhớ làng bằng tình yêu sâu nặng, không thể viết nổi những đoạn văn như rút ruột mình ra: “Làng tôi cách thị trấn Hồ Xá không xa, người lớn đi bộ gần một giờ, còn trẻ con thì đủ sức níu lấy gánh mẹ mà chạy lon ton từ nhà lên chợ huyện. Thế mà có một thời tôi ngỡ cái làng của mình như một miếng bìa bị rọc bỏ khỏi thân gỗ quý, như bị lãng quên khỏi nhịp tiến văn minh của loài người. Tuổi thơ của tôi lớn dậy trong những lũy tre rậm rịt, bịt bùng, với tiếng ru khàn khàn của bà già hàng xóm giữa những buổi trưa xao xác ngọn gió Lào…”.

Tình yêu quê hương và khát vọng hòa bình đã, đang và sẽ là mạch nguồn văn chương của hôm qua, hôm nay và những ngày mai đối với những người biết sống có ích và sáng tác dâng hiến cho đời, nhất là với những ai nặng lòng với miền ký ức thiêng liêng Quảng Trị.

Phạm Xuân Dũng







Đưa anh trở về
Báo Lạng Sơn 3 phút trước














Home Icon VỀ TRANG CHỦ