🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Tin báo chấn động đến ông Trường Chinh và mệnh lệnh bí mật của vị 'Tư lệnh' công an

3 giờ trước
Tin báo chấn động đến tai ông Trường Chinh và mệnh lệnh bí mật của vị 'Tư lệnh' công an.

Cuộc đấu trí căng thẳng trong những ngày bảo vệ chính quyền thời kỳ đầu ấy là một mảnh ghép khởi đầu. Bài viết dưới đây sẽ xâu chuỗi lại những cột mốc lịch sử, kể về những chiến công và những hi sinh thầm lặng của lực lượng An ninh nhân dân qua các thời kỳ...

Trước tình thế cấp bách, ông Lê Giản, Giám đốc Nha Công an, đã khẩn thiết xin ý kiến Trung ương Đảng cho quét hết tất cả các trụ sở của Quốc dân đảng ở Hà Nội để chặn đứng âm mưu của chúng.

Giữa không khí căng thẳng, ông Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng, đưa ra chỉ đạo: Kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng là đúng nhưng phải có đủ chứng cứ. Tổng Bí thư nhấn mạnh, việc đấu tranh chống phản cách mạng lúc này có quan hệ đến sự mất còn của chính quyền cách mạng nên phải tiến hành thật khẩn trương nhưng rất thận trọng.

Cùng lúc đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp cũng nhắc nhở Nha Công an phải hành động kiên quyết nhưng thận trọng, yêu cầu bắt buộc phải có chứng cứ cụ thể, xác thực trước khi hành động để khỏi mắc mưu kẻ thù.

Vậy, tại sao những nhà lãnh đạo lại đặt ra một "bài toán" khắt khe đến vậy giữa thời khắc sinh tử? Để hiểu được sự cẩn trọng ấy, cần lật lại bối cảnh lịch sử.

Ngày 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam ra đời, phải siết chặt đội ngũ bước ngay vào cuộc chiến đấu để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ của nhà nước công nông đầu tiên trong thế giới thuộc địa. Lực lượng An ninh nhân dân bấy giờ mang trên vai trọng trách bảo vệ an ninh tổ quốc, bảo vệ chính quyền và chế độ mới.

Nhưng Nhà nước Việt Nam vừa mới ra đời đã lập tức rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Các đảng phái phản động lợi dụng tình hình đa đảng để chống phá rất quyết liệt, đỉnh điểm là mưu đồ của tổ chức Quốc dân đảng với trụ sở chính đặt tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều).

Theo “Kế hoạch đảo chính Chính phủ Hồ Chí Minh” do Trương Tử Anh soạn thảo, âm mưu của chúng là: Đúng ngày 14/7, nhân kỷ niệm ngày quốc khánh Pháp, quân Pháp sẽ diễu binh qua Bắc Bộ phủ. Chớp lấy thời cơ, Quốc dân đảng sẽ ném lựu đạn vào tốp lính da đen, tạo lý do hợp lý để quân đội Pháp đánh chiếm các cơ quan đầu não của nhà nước ta.

Điều hiểm nghèo nhất là lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang thăm Pháp và phái đoàn Chính phủ ta đang ở Fontainebleau để đàm phán hòa bình; nếu đảo chính nổ ra, các lãnh đạo có thể bị bắt giữ, đe dọa an nguy. Bọn phản động ở Việt Nam sẽ lập tức nhảy ra lập chính phủ bù nhìn tay sai Pháp. Đây là một mối đe dọa trực tiếp, cấp bách tới sự tồn tại của chính quyền dân chủ nhân dân.

Trở lại với mệnh lệnh "phải có chứng cứ" của ông Trường Chinh và ông Võ Nguyên Giáp, đội trinh sát an ninh trẻ trung của Nha Công an Trung ương đã bước vào một cuộc chạy đua với tử thần.

Qua công tác nắm tình hình, trinh sát phát hiện nhóm phản động đang khẩn trương in tài liệu, truyền đơn phản động ở số 132 Duvigneau (nay là phố Bùi Thị Xuân), chuẩn bị bí mật chuyển đi tán phát, kích động biểu tình, bạo động. Tại đây, chúng canh gác, kiểm soát rất gắt gao; những người làm trực tiếp bên trong tuyệt đối không được ra khỏi trụ sở.

Xác định phải lấy được tài liệu làm chứng cứ truy quét, Nha Công an tổ chức một cuộc đột kích bí mật với tâm thế sẵn sàng hi sinh để hoàn thành nhiệm vụ.

Đúng 2h30 ngày 12/7/1946, lực lượng an ninh bất ngờ đột nhập vào sào huyệt 132 Duvigneau. Lúc này, bọn phản động vừa in truyền đơn xong, vẫn nằm vật vã dưới nền nhà. Lực lượng trinh sát chớp nhoáng tóm gọn toàn bộ phản động, tịch thu mọi loại tài liệu, truyền đơn, khẩu hiệu, áp phích, thông cáo đang buộc thành bó hoặc in dở.

Đặc biệt nhất, các chiến sỹ an ninh đã thu giữ được chính bản “Kế hoạch đảo chính Chính phủ Hồ Chí Minh” do Trương Tử Anh soạn thảo.

Nắm trong tay chứng cứ sắt đá, đích thân ông Lê Giản cầm truyền đơn đến Phủ Chủ tịch để báo cáo cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước. Vốn là một nhà nho điềm đạm, nhưng khi tận mắt thấy dã tâm của bọn phản động, Cụ Huỳnh Thúc Kháng bực tức, gõ mạnh chiếc batoong xuống nền nhà, quát lớn ra lệnh: “Diệt! Diệt! Diệt!”.

Có bằng chứng rõ ràng và mệnh lệnh tối cao, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định cho lực lượng công an phối hợp với các lực lượng vũ trang khác tiến công truy quét bọn phản cách mạng tại tất cả các trụ sở của chúng ở Hà Nội.

Cánh quân chủ lực lập tức khám xét sào huyệt số 7 phố Ôn Như Hầu, bắt giữ Phan Kích Nam - một trong những tên cầm đầu mang danh đại biểu Quốc hội - cùng đồng bọn, giải thoát những người bị chúng bắt cóc chưa kịp thủ tiêu. Sự tàn ác của kẻ thù bị lột trần khi lực lượng công an thu được dụng cụ làm bạc giả, dụng cụ tra tấn, thuốc mê... và 6 thi thể bị chúng sát hại, chôn ngay trong vườn, chưa kể những thi thể bị vứt xuống hồ Thiền Quang.

Tại số nhà 80 Quán Thánh, khi lực lượng công an đang khám xét, thực dân Pháp điều xe tăng đến can thiệp, uy hiếp. Tuy nhiên, trước chứng cứ đầy đủ và sự đấu tranh của đông đảo nhân dân, quân Pháp buộc phải rút lui. Cuộc truy lùng diễn ra gắt gao tại các khu phố, tóm gọn gần 100 tên phản động, trong đó có Phan Kích Nam, Đỗ Đình Đạo.

Chiến công giải quyết "Vụ án phố Ôn Như Hầu" đã khiến tình báo thực dân Pháp và phản động tay sai Tưởng Giới Thạch phải chuốc lấy thất bại.

Đáng chú ý, chiến công này được thực hiện khi lực lượng an ninh mới thành lập chưa đầy một năm. Việc kịp thời khám phá, ngăn chặn âm mưu chống phá đã góp phần đặt nền móng hình thành truyền thống "còn Đảng thì còn mình" của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, đưa ngày 12/7 trở thành Ngày truyền thống của toàn lực lượng.

Đêm 26 rạng ngày 27/9/1950, giữa một đêm mưa gió bão bùng trên bờ biển Sầm Sơn (Thanh Hóa), nữ cán bộ tình báo Nguyễn Thị Lợi trong bộ áo dài trắng kiêu hãnh bước lên Thông báo hạm Amiôđanhvin của thực dân Pháp. Chị sắm vai "phu nhân Quốc vụ khanh", xách theo chiếc valy chứa 30kg thuốc nổ để thực hiện một chuyến đi vĩnh biệt.

Trước khi nhiệm vụ của nữ cán bộ Nguyễn Thị Lợi diễn ra, vào cuối năm 1947, sau thất bại thảm hại trên chiến khu Việt Bắc, thực dân Pháp sử dụng quân bài Bảo Đại, lập Chính phủ bù nhìn và ra sức lôi kéo các thế lực phản động.

Tương kế tựu kế, Nha Công an Trung ương lần lượt đưa các điệp báo viên Kim Sơn (bí số A14) và Hoàng Đạo (bí số A13) thâm nhập vào lòng địch. Tổ điệp báo A13 do Hoàng Đạo làm tổ trưởng đã thành lập "đảng Phục Việt" nhằm "ủng hộ" Chính phủ Bảo Đại.

Để tạo sự tin cậy tuyệt đối, Nha Công an Trung ương bố trí một "chiến khu" giả tại vùng rừng núi huyện Nông Cống (Thanh Hóa) và mở đại hội mời một số tên cầm đầu Việt gian ra thăm. Sập bẫy hoàn toàn, Pháp phong cho Hoàng Đạo chức "Quốc vụ khanh", Kim Sơn là đại úy "võ phòng Ngự lâm quân", đồng thời cung cấp đầy đủ vũ khí, tiền bạc để đánh chiếm vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh.

Sau đó, Trung ương chỉ đạo không nên gây cho địch ảo tưởng trong vùng hậu phương của ta có lực lượng ly khai. Chuyên án được lệnh kết thúc. Cơ hội đến khi Pháp đưa Thông báo hạm Amiôđanhvin đến Sầm Sơn đón "phu nhân" ra Hà Nội.

Nữ điệp báo Nguyễn Thị Lợi đã xung phong làm nhiệm vụ này, để lại bức thư với nội dung: “Tôi Nguyễn Thị Lợi quê Châu Phú, Châu Đốc. Chiến sĩ tình báo xin tình nguyện hy sinh cho Tổ quốc, rửa nhục cho thù nhà...”.

Chiếc valy thuốc nổ được ngụy trang thành thuốc phiện mang ra Hà Nội đã qua mặt hoàn toàn kẻ địch. Rạng sáng hôm đó, ngoài khơi xa, Thông báo hạm Amiôđanhvin nổ tung, chôn vùi hơn 200 sĩ quan địch cùng hàng trăm tấn thuốc nổ.

Ít người biết rằng, từ trong đất liền, khi nghe tiếng nổ vang dội, các cán bộ trong tổ điệp báo không ai bảo ai cùng lặng lẽ cúi đầu mặc niệm người nữ điệp báo anh dũng hòa vào biển đảo quê hương.

Tiếng nổ trên thông báo hạm ấy hòa cùng nhiều chiến công dấn thân của lực lượng an ninh trên khắp hai miền Nam - Bắc.

Tại Bắc Bộ, Công an Hưng Yên lên kế hoạch đưa nữ cán bộ Bùi Thị Cúc cùng lực lượng trinh sát tiếp cận, phục kích và tiêu diệt tên Việt gian nguy hiểm Doãn Nhi.

Đòn đánh này đã chặt đứt một mắt xích quan trọng của địch, đánh đòn quyết định vào kế hoạch lùng bắt cán bộ tại khu vực đường số 5 và huyện Yên Mỹ. Bị địch bắt khi mới 20 tuổi, dù phải chịu cực hình tra tấn vô cùng dã man, chị vẫn kiên trung giữ vững khí tiết người chiến sĩ cộng sản đến hơi thở cuối cùng vào năm 1950.

Ở Nam Bộ, chị Võ Thị Sáu - liên lạc viên Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ - đã lập nhiều chiến công táo bạo đi sâu vào lòng địch. Chị đã ném lựu đạn giải tán cuộc mít tinh "mừng Quốc khánh Pháp" ngày 14/7/1948 mà không gây thương vong cho đồng bào; tiếp đó phối hợp với quân báo ném lựu đạn tại khách sạn Ca-tô-rê (Vũng Tàu), tiêu diệt trên 20 sĩ quan và binh lính Pháp. Tháng 5/1950, chị Võ Thị Sáu bị địch bắt và kết án tử hình dù chưa đến tuổi thành niên.

Sự dấn thân và những chiến công oanh liệt của các anh hùng liệt sĩ đã khích lệ tinh thần chống thực dân Pháp, góp phần vào thắng lợi to lớn làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt gần 100 năm cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta.

Giữ vững hậu phương, lực lượng An ninh miền Bắc đã chi viện hàng nghìn cán bộ ưu tú, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm dày dặn cho chiến trường miền Nam.

Chính những cán bộ này đã sát cánh cùng lực lượng tại chỗ xây dựng các đơn vị vũ trang an ninh, trở thành lực lượng nòng cốt bám sát địch, thực hiện nhiều vụ tập kích ngay trong sào huyệt và thu thập tin tức phục vụ tác chiến.

Trong cuộc chiến đấu ấy, trong cuộc chiến đấu ấy, một trong những dấu ấn oanh liệt nhất thuộc về Nguyễn Tài - Cục trưởng Bảo vệ Chính trị Bộ Công an, người được chi viện vào Nam Bộ làm Trưởng An ninh T4 (tiền thân của Công an TPHCM).

Rơi vào tay địch, ông bị giam cầm hơn 5 năm trời. Đó là hàng nghìn ngày đêm ông phải chịu đựng cực hình tra tấn, liên tục hàng ngày đấu trí căng thẳng với CIA và Trung ương tình báo chế độ Sài Gòn.

Giữa chốn lao tù, ông Nguyễn Tài đã đi qua những tháng ngày tăm tối ấy, ông bắt đầu mỗi buổi sáng bằng việc hát thầm Quốc ca, tập các động tác thể dục đơn giản và tự sáng tác những bài thơ, bài hát trong đầu.

Cục trưởng Nguyễn Tài còn lặng lẽ vẽ một ngôi sao trên tường xà lim, để ánh sáng từ ngôi sao ấy soi đường cho mình đi qua những năm tháng khắc nghiệt nhất.

Sự kiên cường của Nguyễn Tài đã trở thành nỗi ám ảnh đối với chính những kẻ thẩm vấn. Frank Snepp, nhân viên CIA phụ trách khai thác tại Trung tâm thẩm vấn quốc gia, từng phải thú nhận: “Thẩm vấn Nguyễn Tài là thẩm vấn nhiều thách thức nhất của tôi”.

CIA phải đi đến kết luận rằng, cho đến ngày 30/4/1975: “Tài đã trải qua hơn bốn năm bị biệt giam trong xà lim nhưng ông chưa từng khai nhận một cách đầy đủ ông là ai”.

Khí tiết ấy khiến ông trở thành người được các tác giả Mỹ đề cập nhiều nhất khi viết về cuộc chiến, với những danh xưng nể trọng như: “Người trong xà lim trắng toát”, “một cán bộ Cộng sản tận tâm”, “một người từng trải, thông minh, được đào tạo tốt” hay “một người cứng cỏi không dễ gì làm suy yếu…

Cuộc đời và sự nghiệp của ông trải qua những thử thách khắc nghiệt: Được cứu sống đúng vào ngày 30/4/1975, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công an.

Vượt qua sự thử thách của thời gian, ông được nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, và được nhiều thế hệ cán bộ An ninh kính trọng gọi ông với danh xưng “anh hùng của những anh hùng”.

Tiếp nối bản lĩnh của anh hùng Nguyễn Tài là sự dấn thân của điệp báo Võ Văn Em. Nhận nhiệm vụ từ lãnh đạo An ninh T4, ông đã ám sát thành công ứng cử viên Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Bị bắt và tuyên án tử hình, Võ Văn Em bị đày ra Côn Đảo.

Nếm trải đủ cực hình tra tấn suốt 8 năm 4 tháng 24 ngày, ông vẫn giữ vững ý chí chiến đấu và khí tiết cho đến ngày Côn Đảo được giải phóng (1/5/1975). Trở về đời thường, ông lao động sản xuất và được Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2018.

Hai anh hùng Nguyễn Tài và Võ Văn Em không phải là những mảnh ghép đơn độc. Họ là những mắt xích tiêu biểu của một thế trận an ninh bí mật, được dựng nên bằng máu và ý chí trên toàn miền Nam.

Suốt 20 năm kháng chiến khốc liệt, từ An ninh Cục đến các An ninh Khu, một hệ thống chỉ huy đã bám rễ sâu, xây dựng cơ sở vững chắc ngay trong khu vực địch kiểm soát. Mạng lưới ấy đã hoàn thành sứ mệnh kép: Vừa làm lá chắn bảo vệ tuyệt đối an toàn cho Trung ương Cục miền Nam và các cán bộ chỉ huy, vừa chủ động tạo ra những đòn đánh ngay giữa sào huyệt đối phương.

Tiêu biểu trong số đó phải kể đến chiến công nổ mìn tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, tạo nên tiếng vang trong chiến dịch Tổng công kích và nổi dậy Xuân 1968.

Cũng chính từ mạng lưới bám rễ sâu vào sào huyệt ấy, những điệp viên an ninh T4 lại lặng lẽ giăng một mẻ lưới lớn nhất ngay tại "Phủ Đầu Rồng" để đón thời khắc 30/4, khép lại quá khứ máu lửa và mở ra một trận tuyến mới kiến tạo nền hòa bình...

(Còn nữa...)

Ảnh: TTXVN, CAND, Tư liệu

Nguyễn Hồng Thái

Nguyễn Đình Đoàn Bổng












Tháng 7 tri ân
Báo Đồng Nai 22 phút trước







Home Icon VỀ TRANG CHỦ