🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Thượng tướng quân Doãn Nỗ

1 giờ trước
Là một trong những tướng giỏi được ghi trong sách 'Lam Sơn thực lục', Doãn Nỗ (có tài liệu viết Doãn Nổ) là bậc khai quốc công thần có nhiều đóng góp cho thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn. Cũng bởi vậy, ông được ban quốc tính (họ vua), vì thế mà sử sách còn nhắc đến ông với tên Lê Nỗ.

Di tích cấp quốc gia đền thờ Thượng tướng quân Doãn Nỗ trên đất Sơn Nam xưa (nay là xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên).

Ông vốn tên Doãn Thịnh, là con cháu của một dòng họ “danh gia vọng tộc” của đất cổ Kẻ Nưa xưa. Theo sử sách và lưu truyền dân gian, họ Doãn ở Kẻ Nưa là dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và vinh hiển từ rất sớm. Vào thời nhà Lý, Doãn Tử Tư là bậc hiền tài ở Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay) đã ra đất Thăng Long dốc sức hiến kế sách giúp vua. Với trí thông minh và tài ngoại giao, ông được vua Lý cử đi sứ nhà Tống. Đến khi trở về, được vua ban tước Quận công.

Tiếp nối ông nội Doãn Tử Tư, người cháu là Doãn Anh Khải về sau cũng trở thành “nhà ngoại giao” được vua nhà Lý trọng dụng. Đến thời nhà Trần, Doãn Bằng Hài (có tài liệu viết Doãn Bang Hiến) với trí thông minh và tài học đã thi đỗ Tiến sĩ. Cuộc đời làm quan, ông luôn giữ đức thanh liêm, chính trực, giúp vua soạn thảo nhiều kế sách đối ngoại. Sau khi đi sứ nhà Nguyên trở về, ông được vua Trần ban thưởng cho nhiều ruộng đất, ban tước Hưng Đình hầu.

Cuối thế kỷ XIV, khi nhà Hồ chiếm ngôi nhà Trần khiến lòng dân không phục, nhà Minh đã dẫn quân sang xâm lược nước ta... Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm quan nhưng lớn lên giữa “buổi” mất nước khiến cho người thiếu niên Doãn Thịnh sớm lựa chọn con đường phải đi.

Khi đó, ở đất Vạn Lộc có Nguyễn Chích - người có tài võ nghệ đã nuôi chí lớn, chiêu mộ binh lực để chống giặc ngoại xâm. Bấy giờ, anh em Doãn Thịnh ở đất Kẻ Nưa đã cùng với Nhân dân góp tiền của, tổ chức vận lương tiếp tế cho nghĩa quân của Nguyễn Chích. Tuy nhiên, trong một lần đang vận lương thì chẳng may bị giặc bắt. May mắn sau đó, Doãn Thịnh trốn thoát.

Có chuyện kể rằng, sau khi thoát nạn, Doãn Thịnh tình cờ gặp người quen hiện đang làm thuộc cấp cho Lê Lợi, nhờ sự giới thiệu và dẫn đường, người con của đất Kẻ Nưa đã nhanh chóng gặp được minh chủ. Nhìn thấy dáng vẻ nhanh nhẹn, khỏe mạnh của ông, chủ tướng khởi nghĩa Lam Sơn đã đặt cho tên mới là Doãn Nỗ. Nhờ tài năng võ nghệ và hiểu biết về binh pháp, Doãn Nỗ được giao nhiệm vụ huấn luyện binh sĩ và chỉ huy đội quân Thiết đột.

Trong những ngày đầu của khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn, bị vây ráp, truy đuổi, có những lúc bị tuyệt lương kéo dài, ở vào tình thế như “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhờ sự bền trí, đồng lòng của minh chủ Lê Lợi và những người dưới trướng như tướng Doãn Nỗ, nghĩa quân Lam Sơn đã từng bước vượt qua khó khăn.

Năm 1424, theo kế sách của Nguyễn Chích, Lê Lợi quyết định rời núi rừng xứ Thanh để tiến vào chiếm lấy đất Nghệ An. Một trong những trận đánh nổi tiếng ghi dấu tài năng của tướng Doãn Nỗ là ở ải Khả Lưu. Bấy giờ, Doãn Nỗ cùng với các tướng Đinh Lễ, Phạm Vấn... đã chỉ huy các cánh quân từ vị trí mai phục, nhất tề xông lên vây hãm khiến quân Minh không kịp trở tay. Tướng giặc là Trần Trí buộc phải thu tàn quân chạy về thành Nghệ An. Nghĩa quân Lam Sơn thừa thắng đuổi đến bao vây.

Sau đó, nhận thấy vùng Tân Bình và Thuận Hóa hiện đang là yếu điểm của giặc Minh, vì thế Lê Lợi đã phái Doãn Nỗ cùng với Trần Nguyên Hãn dẫn quân theo đường núi tiến vào đánh chiếm, giải phóng hai châu. Sự kiện này được sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa thu, tháng 7, vua nghĩ là thành giặc ở các xứ Thuận Hóa, Tân Bình lâu nay không thông tin tức với Nghệ An và Đông Đô, bảo các tướng rằng: “Người làm tướng giỏi đời xưa, bỏ chỗ bền mà đánh chỗ yếu, tránh chỗ nhiều mà đánh chỗ ít, như thế dùng sức một nửa mà nên công gấp đôi”. Bèn sai Tư đồ Trần Nguyên Hãn và Thượng tướng Lê Nỗ báo cho bọn Lê Đa Bồ sai đem hơn 1 nghìn quân và 1 con voi to (có tài liệu viết 1 thớt voi) ra đánh các thành Tân Bình, Thuận Hóa và chiêu phủ Nhân dân.

Đến sông Bố Chính, gặp giặc Minh, bọn Hãn đem quân vào nơi hiểm yếu, ngầm phục quân ở Hà Khương để dử giặc. Tướng Minh là Nhâm Năng đem hết quân tiến đi. Bọn Hãn hợp quân và voi để đánh, giả cách thua chạy. Năng đuổi theo, quân phục đánh ập vào. Quân Minh tan vỡ, bị chém đầu chết đuối rất nhiều. Bấy giờ quân của Hãn, Nỗ ít mà quân của giặc còn nhiều... Vua sai tiếp bọn Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 chiếc thuyền chiến vượt biển đến thẳng chỗ ấy. Khi được tin thắng trận của Nỗ, mới thừa thắng đánh các xứ Tân Bình, Thuận Hóa. Quân và dân của giặc đều quy thuận... Từ đấy Thuận Hóa, Tân Bình đều thuộc về ta cả. Các tướng suy tôn vua làm “Đại thiên hành hóa”. Từ đấy trở đi có mệnh lệnh dụ bảo việc gì phần nhiều lấy bốn chữ ấy để xưng”.

Thắng lợi Thuận Hóa, Tân Bình được xem như bước ngoặt, tạo “bàn đạp” để nghĩa quân Lam Sơn chuyển sang giai đoạn phản công, tiêu diệt giặc. Cuối năm 1426, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn quyết định mở cuộc tấn công ra phía Bắc, tiến đánh Đông Đô. Lúc bấy giờ, tướng quân Doãn Nỗ được lệnh chỉ huy cánh quân trấn giữ vùng xung yếu ở phía Tây Nam thành Đông Đô.

Thượng tướng quân Doãn Nỗ là một trong những khai quốc công thần góp phần làm nên thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn (ảnh chụp tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh trên đất Lam Sơn - nơi phát tích cuộc khởi nghĩa).

Sau 10 năm chiến đấu gian khổ, khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược cũng đi đến ngày toàn thắng, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi vua. “Khi xét công ban thưởng... Doãn Nỗ được phong làm Trung lượng đại phu, Tả Bổng Thánh Vệ tướng quân, tước Trí tự. Sau đó được phong Trụ Quốc công Thượng tướng quân quản đạo Sơn Nam. Doãn Nỗ được ban ấp lộc điền ở Phương Chiểu huyện Tiên Lữ trấn Sơn Nam thượng...” (sách 35 Vị khai quốc công thần Lam Sơn).

Năm 1439, vua Lê Thái Tông thăng cho ông chức Tráng sĩ Vệ Đồng Tri Chư quân sự, phong tước quan Phục hầu. Thời vua Lê Nhân Tông đã tặng tước quan Nội hầu và vua Lê Thánh Tông tặng tước Á hầu.

Lại nói, khi nhậm chức tại đạo Sơn Nam, được ban lộc điền, cũng từ đây dòng họ Doãn đất Kẻ Nưa xưa (thuộc xã Tân Ninh ngày nay) bắt đầu sinh sống, gây dựng cơ nghiệp tại đất Sơn Nam.

Ông Doãn Hiệp, Phó chủ tịch hội đồng gia tộc họ Doãn Việt Nam, cho biết: “Tính từ cụ Doãn Nỗ, dòng họ Doãn đã đến sinh sống, gây dựng cơ nghiệp ở đất Sơn Nam xưa - nay thuộc tỉnh Hưng Yên gần 600 năm. Tuy nhiên, với truyền thống uống nước nhớ nguồn, dẫu đi muôn phương cũng không quên gốc tổ ở Kẻ Nưa xưa, thôn Cổ Định, xã Tân Ninh ngày nay. Vì thế vào ngày giỗ tổ dòng họ Doãn (19/3 âm lịch), người họ Doãn ở khắp muôn phương lại tìm về Cổ Định dâng hương tưởng nhớ tiền nhân”.

(*) Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong các sách: Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Hồng Đức, 2026; 35 vị khai quốc công thần Lam Sơn, NXB Thanh Hóa, 2017.

Bài và ảnh: Trang Bùi





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ