Tìm mô hình quản lý, khai thác hiệu quả vườn quốc gia trong bối cảnh mới

Vườn quốc gia Cúc Phương hiện là trung tâm hàng đầu về cứu hộ động vật hoang dã, nghiên cứu, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái gắn với bảo tồn. Ảnh: Bích Nguyên
Ngân hàng gen quốc gia
Cả nước hiện có 167 khu rừng đặc dụng, trong đó có 36 vườn quốc gia. Rừng đặc dụng là hệ thống bảo tồn thiên nhiên quan trọng nhất, đại diện cho hầu hết các hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam, từ núi cao, đất ngập nước, rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới, rừng khộp đến hệ sinh thái biển và ven biển. Nhiều khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia nằm tại các khu vực biên giới, ven biển, hải đảo và đầu nguồn chiến lược; có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, ổn định dân cư, bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh sinh thái và bảo vệ lợi ích quốc gia lâu dài.
Việt Nam hiện có khoảng 62.600 loài sinh vật, trong đó có hàng nghìn loài động, thực vật quý hiếm, nguy cấp được bảo tồn trong các khu rừng đặc dụng. Đây là “ngân hàng gen quốc gia”, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với an ninh sinh học, an ninh lương thực và phát triển khoa học công nghệ trong tương lai.
Hệ thống rừng đặc dụng đồng thời là "lá phổi xanh", góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, ứng phó biến đổi khí hậu và giữ gìn nhiều giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Đồng thời tạo nền tảng phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ môi trường rừng, giáo dục môi trường và sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân vùng đệm; góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Bài toán hài hòa giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia
Các vườn quốc gia có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, cứu hộ động vật hoang dã và hợp tác quốc tế, là tài sản thiên nhiên có ý nghĩa chiến lược của quốc gia. Phần lớn các vườn quốc gia đã được giao cho địa phương quản lý. Chỉ có 5 vườn quốc gia gồm Tam Đảo, Cúc Phương, Bạch Mã, Yok Đôn và Cát Tiên do Bộ Nông nghiệp và Môi trường trực tiếp quản lý vì có diện tích trải rộng trên nhiều địa phương và giữ vai trò đặc biệt quan trọng về đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Trước yêu cầu đổi mới mô hình quản trị khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu khả năng chuyển các vườn quốc gia về địa phương quản lý để phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền. Xét ở góc độ quản lý nhà nước, đây là hướng tiếp cận hợp lý nhằm phát huy tính chủ động của địa phương, rút ngắn quy trình điều hành, tăng cường trách nhiệm của chính quyền đối với tài nguyên trên địa bàn, đồng thời tạo điều kiện gắn công tác bảo tồn với phát triển kinh tế-xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, nhiều vườn quốc gia do địa phương quản lý đã phát huy hiệu quả, vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, vừa khai thác hợp lý các giá trị phục vụ phát triển địa phương. Tuy nhiên, quản lý vườn quốc gia, nhất là vườn quốc gia liên tỉnh, lại là lĩnh vực nhiều đặc thù. Khác với địa giới hành chính vốn được xác lập bằng đường ranh giới trên bản đồ, các hệ sinh thái tự nhiên vận hành như một chỉnh thể thống nhất. Dòng chảy của nguồn nước, đường di cư của động vật hoang dã, các hành lang đa dạng sinh học hay sự phát tán của các loài sinh vật đều không dừng lại ở ranh giới địa lý. Nếu công tác quản lý bị chia cắt theo địa giới hành chính sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng phân mảnh hệ sinh thái, thiếu thống nhất trong quy hoạch, bảo tồn và sử dụng tài nguyên.

Vườn quốc gia Yok Đôn có diện tích hơn 115.500ha, thuộc địa bàn các tỉnh: Đắk Lắk và Lâm Đồng, là một trong những vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam và là khu bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp duy nhất của cả nước. Ảnh: Bích Nguyên
Các vườn quốc gia còn là trung tâm nghiên cứu khoa học, cứu hộ động vật hoang dã, giáo dục môi trường và hợp tác quốc tế. Nhiều chương trình bảo tồn các loài nguy cấp, phục hồi hệ sinh thái, hay thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam đều đang được triển khai tại các vườn quốc gia liên tỉnh với sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế. Những kết quả này là thành quả của quá trình đầu tư lâu dài, đòi hỏi tính ổn định cao trong quản trị.
Đáng chú ý, quá trình lấy ý kiến các địa phương cũng phản ánh khá rõ cách nhìn đa chiều đối với vấn đề này. Trong số 10 địa phương liên quan đến các vườn quốc gia liên tỉnh, có 7 địa phương đề nghị tiếp tục duy trì mô hình quản lý hiện nay; 3 địa phương đề xuất tiếp nhận toàn bộ vườn quốc gia về địa phương quản lý.
Nhiều tổ chức bảo tồn cũng khuyến nghị, cần hết sức thận trọng khi thay đổi mô hình quản lý các vườn quốc gia có giá trị đặc biệt. Các ý kiến đều nhấn mạnh nguyên tắc quản trị cần dựa trên giá trị sinh thái và tính toàn vẹn của hệ sinh thái thay vì chỉ dựa trên địa giới hành chính. Đồng thời, cần xây dựng một đề án tổng thể về tổ chức hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, tránh điều chỉnh riêng lẻ từng vườn quốc gia.
Quản trị theo hệ sinh thái-hướng đi cho giai đoạn mới
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không tồn tại một mô hình quản lý duy nhất. Nhiều quốc gia áp dụng mô hình quản trị đa cấp, trong đó, chính quyền Trung ương trực tiếp quản lý các vườn quốc gia có giá trị đặc biệt hoặc liên vùng, còn địa phương chịu trách nhiệm đối với các khu bảo tồn quy mô nhỏ hơn. Điểm chung là luôn duy trì một đầu mối thống nhất về chiến lược bảo tồn, tiêu chuẩn chuyên môn, cơ sở dữ liệu và hợp tác quốc tế nhằm bảo đảm tính xuyên suốt trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vấn đề đặt ra có lẽ không phải là lựa chọn giữa quản lý tập trung hay phân cấp tuyệt đối, mà là thiết kế một mô hình quản trị phù hợp hơn với đặc điểm của từng nhóm vườn quốc gia.
Theo đó, Trung ương cần tiếp tục giữ vai trò thống nhất trong hoạch định chính sách, ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, điều phối các chương trình bảo tồn, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quản lý đối với các vườn quốc gia có ý nghĩa chiến lược, liên tỉnh hoặc xuyên vùng sinh thái. Chính quyền địa phương cần được trao quyền mạnh hơn trong quản lý vùng đệm, phát triển sinh kế cộng đồng, tổ chức du lịch sinh thái, huy động nguồn lực xã hội, quản lý đất đai và phối hợp bảo vệ rừng.
Đối với các vườn quốc gia liên tỉnh, việc quản lý cần bảo đảm tính thống nhất, tập trung và xuyên suốt trên toàn bộ không gian sinh thái nhằm duy trì tính toàn vẹn hệ sinh thái, kết nối sinh cảnh, hành lang đa dạng sinh học, các quá trình sinh thái tự nhiên và bảo đảm thực hiện đồng bộ các mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững.
Bích Nguyên
56 phút trước
28 phút trước
30 phút trước
25 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
3 phút trước
5 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
12 phút trước